Đà Nẵng: Để văn hóa truyền thống thực sự sống trong cộng đồng

Đà Nẵng đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng 5 không gian văn hóa truyền thống, 16 mô hình bảo tồn gắn với du lịch cộng đồng và số hóa các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một. Để các mục tiêu này đi vào thực chất, trọng tâm cần đặt vào duy trì thực hành văn hóa, tạo thế hệ kế cận, trao quyền cho cộng đồng và hình thành sinh kế phù hợp.

Đà Nẵng đang triển khai Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 của Chính phủ về một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố.

Đà Nẵng: Để văn hóa truyền thống thực sự sống trong cộng đồng - Ảnh 1

Theo kế hoạch, đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu xây dựng 5 không gian văn hóa truyền thống, 16 mô hình bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch cộng đồng; số hóa các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một, đẩy mạnh truyền dạy trong cộng đồng và trường học.

Định hướng này đặt bảo tồn văn hóa trong mối quan hệ với thực hành, truyền dạy và đời sống cộng đồng. Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng duy trì các giá trị văn hóa sau khi chương trình hỗ trợ kết thúc.

Vì vậy, hiệu quả của kế hoạch cần được đánh giá qua hoạt động thực tế. Số lượng không gian được xây dựng, mô hình được hình thành hay dữ liệu được số hóa mới phản ánh một phần kết quả. Điều cần quan tâm là cộng đồng có tiếp tục sử dụng, thực hành và truyền dạy các giá trị đó hay không.

Số hóa để lưu giữ, thực hành để bảo tồn

Ngay trong năm 2026, thành phố đặt mục tiêu hoàn thành thống kê, đánh giá các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một; xác định những không gian cần bảo tồn và nhận diện các chủ thể văn hóa nòng cốt, kế cận, tiềm năng.

Thành phố cũng đặt mục tiêu dữ liệu hóa 100% giá trị văn hóa nằm trong danh mục có nguy cơ mai một. Đây là nhiệm vụ cần thiết trong quá trình chuyển đổi số, giúp lưu giữ tư liệu, phục vụ nghiên cứu, xây dựng học liệu và hỗ trợ công tác quản lý.

Tuy nhiên, số hóa không đồng nghĩa với bảo tồn. Một làn điệu được ghi âm, điệu múa được quay phim, bộ trang phục được chụp ảnh hay lễ hội được tư liệu hóa mới dừng ở việc lưu giữ thông tin. Nếu thiếu người kế tục, thiếu môi trường thực hành và cộng đồng không còn duy trì, giá trị văn hóa vẫn có nguy cơ mai một.

Do đó, dữ liệu sau khi được số hóa cần được đưa trở lại đời sống. Tư liệu có thể phục vụ truyền dạy, giáo dục trong trường học, nghiên cứu, giới thiệu văn hóa và hỗ trợ phục dựng những giá trị đang đứng trước nguy cơ biến mất.

Chuỗi bảo tồn cần được tổ chức từ nhận diện, tư liệu hóa, lưu trữ đến truyền dạy, thực hành và trao truyền. Công nghệ là công cụ hỗ trợ, còn cộng đồng giữ vai trò quyết định trong việc duy trì giá trị văn hóa.

Muốn văn hóa sống được, phải có người kế tục

Đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu 100% chủ thể văn hóa nòng cốt được tham gia truyền dạy tại cơ sở cho các chủ thể kế cận. Thành phố cũng phấn đấu 100% trường phổ thông dân tộc nội trú, 80% trường phổ thông dân tộc bán trú và các cơ sở giáo dục có mô hình nội trú dành cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số có mô hình, câu lạc bộ, không gian trải nghiệm và giáo dục văn hóa truyền thống.

Đây là hướng phù hợp, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào cách tổ chức. Nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín nắm giữ nhiều tri thức văn hóa; giáo viên có phương pháp giáo dục; học sinh và thanh niên là lực lượng tiếp nhận, thực hành và kế thừa.

Hoạt động truyền dạy vì vậy cần có sự phối hợp giữa các lực lượng. Nghệ nhân và người có uy tín truyền đạt tri thức; giáo viên hỗ trợ phương pháp; thanh niên, học sinh tham gia thực hành và giới thiệu văn hóa bằng những hình thức phù hợp.

Nội dung nên ưu tiên những giá trị có khả năng thực hành thường xuyên như dân ca, dân vũ, nhạc cụ, dệt, đan lát, chế tác thủ công, ẩm thực, tiếng nói và tri thức bản địa.

Đưa văn hóa vào trường học cũng cần gắn với hoạt động thực hành. Một câu lạc bộ được thành lập nhưng hoạt động không thường xuyên sẽ khó tạo thế hệ kế cận. Vì vậy, mỗi mô hình cần có chương trình cụ thể, người phụ trách và kinh phí duy trì.

Cùng với đó, cần có cơ chế hỗ trợ nghệ nhân, già làng và người có uy tín tham gia truyền dạy, gồm thù lao, chi phí đi lại và trang thiết bị cần thiết. Đây là điều kiện để hoạt động truyền dạy được duy trì ổn định.

5 không gian văn hóa, 16 mô hình du lịch cộng đồng: Không chạy theo số lượng

Đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu xây dựng 5 không gian văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Nếu được tổ chức phù hợp, các không gian này có thể trở thành địa điểm để cộng đồng thực hành, truyền dạy, trình diễn và giới thiệu văn hóa.

Tuy nhiên, xây dựng không gian mới chỉ là bước đầu. Mỗi không gian cần có người sử dụng, hoạt động thường xuyên và nguồn lực vận hành. Trước khi đầu tư, cần xác định rõ phương án quản lý, trách nhiệm của chính quyền, cộng đồng, nghệ nhân, đơn vị du lịch và các tổ chức liên quan.

Thành phố cũng cần tránh cách làm đồng loạt. Mỗi không gian nên xuất phát từ đặc trưng văn hóa của cộng đồng địa phương. Có thể triển khai mô hình điểm, đánh giá hiệu quả, điều chỉnh rồi nhân rộng. Những mô hình duy trì được hoạt động, thu hút người dân và tạo nguồn thu phù hợp mới nên tiếp tục mở rộng.

Mục tiêu xây dựng 16 mô hình bảo tồn, phát huy văn hóa gắn với du lịch cộng đồng mở ra cơ hội cho các địa bàn như Tà Lang, Giàn Bí; làng Toom Sara; làng Mường, làng Cao Sơn; làng săn mây Tắk Pổ; làng Văn hóa Tắc Chươm; Bhơhôồng; Đhrôồng và các điểm gắn với rừng cây di sản Pơ mu, Đỉnh Quế, rừng đỗ quyên.

Các địa bàn này có lợi thế về cảnh quan, văn hóa và tri thức bản địa. Tuy nhiên, phát triển du lịch cộng đồng cần đi cùng quy hoạch và năng lực tiếp nhận.

Nếu lượng khách tăng nhanh trong khi cộng đồng chưa đủ năng lực cung cấp dịch vụ, môi trường và sinh hoạt truyền thống có thể chịu sức ép. Ngược lại, nếu sản phẩm thiếu sức hấp dẫn, dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu, người dân khó có thêm thu nhập từ du lịch.

Văn hóa truyền thống chỉ có thể được bảo tồn bền vững khi trở thành một phần của đời sống cộng đồng, được trao truyền qua các thế hệ và gắn với sinh kế phù hợp. (Ảnh minh họa)
Văn hóa truyền thống chỉ có thể được bảo tồn bền vững khi trở thành một phần của đời sống cộng đồng, được trao truyền qua các thế hệ và gắn với sinh kế phù hợp. (Ảnh minh họa)

Vì vậy, các mô hình cần được xây dựng theo chuỗi gồm văn hóa, cảnh quan, dịch vụ, sản phẩm, thị trường và sinh kế. Trước khi đầu tư, cần đánh giá nhu cầu thị trường, hạ tầng, vệ sinh môi trường, nguồn nhân lực, khả năng cung ứng dịch vụ và mức độ tham gia của người dân.

Quan trọng hơn, phải xác định rõ phần lợi ích kinh tế thuộc về cộng đồng. Nếu người dân chủ yếu tham gia biểu diễn trong khi phần lớn giá trị kinh tế nằm ngoài cộng đồng, mục tiêu gắn bảo tồn với sinh kế sẽ khó đạt được.

Không phải giá trị văn hóa nào cũng phù hợp để thương mại hóa

Kế hoạch đặt mục tiêu mỗi xã, phường vùng đồng bào dân tộc thiểu số phấn đấu có ít nhất một sản phẩm văn hóa truyền thống như làng nghề, câu lạc bộ dân ca, dân vũ, dân nhạc, chợ phiên hoặc mô hình khởi nghiệp sáng tạo văn hóa.

Mục tiêu này tạo điều kiện để các địa phương phát huy lợi thế riêng. Tuy nhiên, cần tránh việc địa phương nào cũng phải tạo sản phẩm để hoàn thành chỉ tiêu.

Không phải giá trị văn hóa nào cũng phù hợp để thương mại hóa. Có những giá trị cần được bảo tồn vì ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng, cộng đồng và giáo dục. Có giá trị phù hợp với du lịch, trong khi những giá trị khác thích hợp hơn với giáo dục, nghiên cứu hoặc sáng tạo nghệ thuật.

Có thể phân nhóm theo ba hướng: bảo tồn; bảo tồn kết hợp giáo dục, trải nghiệm; bảo tồn gắn với thương mại và du lịch.

Cách tiếp cận này giúp địa phương xác định đúng mục tiêu đối với từng giá trị, hạn chế việc đưa mọi giá trị văn hóa vào hoạt động kinh doanh và tôn trọng những giá trị có ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng.

Trao quyền để cộng đồng làm chủ

Vai trò của cộng đồng là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của kế hoạch.

Nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín và các nhóm cộng đồng cần được tham gia xác định nội dung bảo tồn, phương thức truyền dạy và cách thức phát huy giá trị văn hóa.

Nếu cơ quan quản lý quyết định phần lớn nội dung còn cộng đồng chủ yếu tham gia ở khâu thực hiện, hoạt động bảo tồn dễ rơi vào hình thức.

Vì vậy, cần chuyển từ huy động cộng đồng tham gia sang trao quyền để cộng đồng cùng quyết định và tổ chức thực hiện. Đây cũng là cơ sở để gắn bảo tồn với sinh kế.

Khi người dân có quyền tham gia, có cơ hội hưởng lợi và thấy được giá trị của việc gìn giữ văn hóa, hoạt động bảo tồn sẽ có điều kiện duy trì lâu dài.

Để văn hóa truyền thống tiếp tục hiện diện trong đời sống, cần tạo môi trường để cộng đồng thực hành và trao truyền. Trong đó, cộng đồng là chủ thể; nghệ nhân và người có uy tín giữ vai trò truyền dạy; thế hệ trẻ là lực lượng kế thừa; công nghệ hỗ trợ lưu giữ và truyền bá; sinh kế tạo thêm điều kiện để hoạt động bảo tồn duy trì.

Với cách tiếp cận này, 5 không gian văn hóa, 16 mô hình bảo tồn gắn với du lịch cộng đồng và mục tiêu số hóa các giá trị có nguy cơ mai một cần được đánh giá bằng hiệu quả thực tế. Thước đo quan trọng là văn hóa có tiếp tục được thực hành, trao truyền và tạo ra giá trị phù hợp cho cộng đồng hay không.

Bùi Quốc Dũng