Sự chuyển dịch từ lượng sang chất
Với lợi thế về khí hậu ôn đới và thổ nhưỡng đặc thù, Lào Cai hiện sở hữu vùng nguyên liệu chè khổng lồ lên tới 16.082 ha, mang lại sản lượng ước đạt 128.970 tấn mỗi năm. Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ thị trường quốc tế và xu hướng tiêu dùng xanh, chính quyền và người dân địa phương đã nhận thức rõ rằng sản lượng lớn không còn là lợi thế cạnh tranh duy nhất. Thay vào đó, chất lượng và độ an toàn của sản phẩm mới là tấm vé thông hành để đưa chè Lào Cai vươn ra biển lớn. Tính đến thời điểm hiện tại, diện tích chè sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ của toàn tỉnh đã đạt con số ấn tượng là hơn 2.419 ha. Đáng chú ý, trong số đó có 1.219 ha tại xã Bản Liền đã đạt các tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế khắt khe, mở đường cho sản phẩm thâm nhập vào các thị trường khó tính như Châu Âu hay Bắc Mỹ. Bên cạnh đó, 1.200 ha chè cổ thụ tại các khu vực vùng cao cũng đang được quy hoạch và sản xuất theo quy chuẩn hữu cơ, tạo nên dòng sản phẩm đặc thù có giá trị kinh tế cao.
Sự chuyển dịch này không chỉ là những con số thống kê khô khan mà phản ánh một tư duy sản xuất mới. Người nông dân đã bắt đầu từ bỏ thói quen canh tác lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật để chuyển sang sử dụng các chế phẩm sinh học và phân bón hữu cơ. Quá trình này tuy đòi hỏi sự kiên trì và chi phí đầu tư ban đầu cao hơn, nhưng lại mang đến lợi ích kép: bảo vệ sức khỏe cho chính người trồng chè, cải tạo môi trường đất và nước, đồng thời tạo ra sản phẩm sạch, an toàn cho người tiêu dùng, từ đó nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác.
Điểm sáng từ các mô hình liên kết chuỗi giá trị
Sự thành công của chiến lược phát triển chè hữu cơ tại Lào Cai không thể không nhắc đến vai trò của các mô hình kinh tế tập thể và sự chủ động của các địa phương. Tại xã Hưng Khánh, nghề trồng chè đã có lịch sử phát triển hơn nửa thế kỷ, nhưng phải đến khi thực hiện cuộc cách mạng về giống và quy trình canh tác, cây chè nơi đây mới thực sự cất cánh. Từ năm 2006, địa phương này đã mạnh dạn thay thế các diện tích chè già cỗi, kém hiệu quả bằng giống chè Bát Tiên chất lượng cao. Đến nay, toàn xã đã hình thành vùng nguyên liệu hơn 190 ha, trong đó gần một nửa diện tích được canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP, tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng thương hiệu.
Sự ra đời của Hợp tác xã Chè Khe Năm vào năm 2020 là một minh chứng sống động cho hiệu quả của mô hình liên kết sản xuất. Với nòng cốt là 7 thành viên chính thức liên kết chặt chẽ với 80 hộ nông dân, hợp tác xã đã khép kín quy trình từ trồng trọt, thu mua đến chế biến và tiêu thụ. Mỗi năm, đơn vị này bao tiêu khoảng 30 tấn chè tươi, chế biến thành 5 đến 6 tấn thành phẩm chất lượng cao. Thành quả của sự nỗ lực này là việc các sản phẩm chè Bát Tiên và chè xanh Hưng Khánh lần lượt đạt chứng nhận OCOP 4 sao và 3 sao cấp tỉnh, được gắn tem truy xuất nguồn gốc rõ ràng, tạo dựng niềm tin vững chắc nơi người tiêu dùng.
Tương tự, tại xã Tằng Loỏng, cây chè cũng đang khẳng định vai trò là cây trồng chủ lực trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Với diện tích hơn 177 ha bao gồm các giống chè Lai 1, Lai 2 và Bát Tiên, người dân nơi đây đang từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất dưới sự hướng dẫn sát sao của cán bộ khuyến nông. Các lớp tập huấn kỹ thuật về ủ phân hữu cơ, phòng trừ sâu bệnh bằng biện pháp sinh học hay kỹ thuật đốn tỉa, chăm sóc sau thu hoạch được tổ chức thường xuyên đã thay đổi căn bản tập quán canh tác của bà con. Nhờ đó, năng suất và chất lượng chè Tằng Loỏng ngày càng được nâng cao, mang lại nguồn thu nhập ổn định và bền vững, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế của địa phương.
Tầm nhìn chiến lược đến năm 2030
Lào Cai đã xác định một lộ trình phát triển rõ ràng và đầy tham vọng cho giai đoạn 2026 - 2030. Mục tiêu của tỉnh không đặt nặng vào việc mở rộng diện tích ồ ạt mà tập trung vào chiều sâu chất lượng và giá trị gia tăng. Diện tích chè sẽ được duy trì ổn định, nhưng quy trình canh tác sẽ được chuẩn hóa toàn diện theo các tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ. Tỉnh đặt mục tiêu thực hiện các biện pháp thâm canh, cải tạo để nâng năng suất bình quân lên mức 10 - 15 tấn/ha/năm, đồng thời tạo ra bước đột phá trong khâu chế biến. Tỷ lệ chế biến chè xanh chất lượng cao dự kiến sẽ tăng từ mức 15% hiện nay lên 30 - 40%, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của phân khúc khách hàng trung và cao cấp.
Đặc biệt, cơ cấu thị trường xuất khẩu của chè Lào Cai sẽ có sự điều chỉnh mang tính chiến lược. Thay vì phụ thuộc vào các thị trường dễ tính nhưng giá trị thấp, tỉnh chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khó tính nhưng mang lại biên lợi nhuận cao như Liên minh Châu Âu (EU), Đông Âu và Đài Loan, với mục tiêu chiếm 20 - 30% tổng sản lượng xuất khẩu. Song song với đó, thị trường nội tiêu cũng được chú trọng với mục tiêu tiêu thụ 30% sản lượng.
Ngoài ra, chiến lược bảo tồn và phát triển thương hiệu chè cổ thụ vùng cao cũng được đặc biệt quan tâm. Các vùng chè Shan Tuyết cổ thụ tại Bắc Hà, Mường Khương hay sự liên kết vùng với Suối Giàng sẽ được đầu tư bài bản để kết hợp giữa bảo tồn nguồn gen bản địa quý hiếm với ứng dụng công nghệ chế biến hiện đại. Hướng đi này không chỉ tạo ra những sản phẩm trà đặc sản có giá trị kinh tế vượt trội mà còn mở ra tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm văn hóa trà, góp phần đa dạng hóa sinh kế và nâng cao vị thế của ngành chè Lào Cai trên bản đồ nông sản Việt Nam và quốc tế.
Bảo An