TP. Hồ Chí Minh: Hoàn thiện cơ chế đưa lao động thời vụ sang Hàn Quốc, mở rộng cơ hội việc làm bền vững

Chương trình hợp tác đưa người lao động Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc thời vụ đang mở ra cơ hội tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho hàng nghìn lao động, nhất là người dân khu vực nông thôn. Tuy nhiên, để mô hình này phát huy hiệu quả lâu dài, yêu cầu đặt ra là hoàn thiện hành lang pháp lý, thống nhất cơ chế quản lý chi phí, tăng cường giám sát điều kiện làm việc và bảo vệ quyền lợi người lao động. TP.Hồ Chí Minh khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương nhằm nâng cao chất lượng triển khai chương trình trong thời gian tới.

TP. Hồ Chí Minh: Hoàn thiện cơ chế đưa lao động thời vụ sang Hàn Quốc, mở rộng cơ hội việc làm bền vững - Ảnh 1

Tạo sinh kế cho lao động nông thôn, phát huy hiệu quả hợp tác địa phương

Đưa người lao động đi làm việc thời vụ tại Hàn Quốc theo thỏa thuận hợp tác trực tiếp giữa chính quyền địa phương hai nước đang trở thành một kênh tạo việc làm có ý nghĩa đối với lao động nông nghiệp. Không chỉ góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn, chương trình còn tạo điều kiện để người dân tích lũy nguồn lực, đầu tư sản xuất và cải thiện đời sống gia đình.

Tại hội nghị tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 59/NQ-CP, do Bộ Nội vụ phối hợp UBND TP.Hồ Chí Minh tổ chức chiều 15/10, Phó Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh ý nghĩa của chương trình đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh. Theo ông, việc tạo điều kiện để người lao động tiếp cận cơ hội việc làm ở nước ngoài cần đi đôi với quản lý chặt chẽ, bảo đảm công khai, minh bạch và an toàn trong suốt quá trình tuyển chọn, làm việc và trở về địa phương.

Thực tế triển khai cho thấy quy mô chương trình đang mở rộng. Đến nay, 16 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố của Việt Nam sau sắp xếp đơn vị hành chính đã đàm phán, ký kết thỏa thuận với các địa phương Hàn Quốc. Gần 18.000 lượt lao động được đưa sang làm việc thời vụ, chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và ngư nghiệp, với thời hạn hợp đồng phổ biến từ 3 đến 8 tháng.

Đáng chú ý, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2026, chương trình ghi nhận 7.943 lượt lao động xuất cảnh, vượt tổng số thực hiện trong cả năm 2025. Sự gia tăng này phản ánh nhu cầu tham gia chương trình, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức, tuyển chọn và quản lý lao động tại các địa phương.

Về thu nhập, người lao động có thể đạt mức 45–60 triệu đồng/tháng, bao gồm tiền làm thêm giờ. Sau khi trừ chi phí ăn ở, sinh hoạt cá nhân và bảo hiểm, khoản tích lũy ước tính còn khoảng 30–45 triệu đồng/tháng. Với hợp đồng kéo dài 5–8 tháng, tổng số tiền tích lũy có thể đạt 150–320 triệu đồng, tùy thời gian làm việc và thu nhập thực tế.

Nguồn thu này có thể giúp các gia đình cải thiện điều kiện sinh hoạt, sửa chữa nhà ở, đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế hộ và trang trải việc học tập của con em. Đối với người nghèo, người dân vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cơ hội tiếp cận việc làm có thu nhập tốt hơn còn góp phần mở rộng khả năng cải thiện sinh kế.

Ở chiều ngược lại, lao động thời vụ Việt Nam góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực nông nghiệp của các địa phương Hàn Quốc trong những giai đoạn cao điểm mùa vụ. Mô hình hợp tác trực tiếp giữa chính quyền địa phương hai nước vì vậy không chỉ tạo lợi ích kinh tế mà còn thúc đẩy trao đổi kinh nghiệm quản lý lao động, tăng cường giao lưu và hợp tác trong lĩnh vực việc làm, phát triển nguồn nhân lực.

Tại TP.Hồ Chí Minh, công tác quản lý và hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài được triển khai gắn với các chính sách an sinh. Thành phố đã ban hành cơ chế cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo Nghị quyết số 71/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025, thông qua nguồn ngân sách ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội. Thành phố cũng thực hiện chính sách hỗ trợ kinh phí trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo Nghị định số 338/2025/NĐ-CP của Chính phủ.

Bên cạnh đó, Thành phố phối hợp với Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Nội vụ để tăng cường quản lý hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Hiện TP.Hồ Chí Minh có 71 doanh nghiệp hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực này. Việc phát huy vai trò của các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần gắn với yêu cầu minh bạch thông tin, kiểm soát chi phí và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động.

Tháo gỡ vướng mắc pháp lý, siết chặt bảo vệ quyền lợi người lao động

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai chương trình vẫn bộc lộ một số hạn chế cần được giải quyết đồng bộ. Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng, tại một số địa phương còn tình trạng tuyển chọn chưa đúng đối tượng; các khoản chi phí người lao động phải trả chưa thống nhất; điều kiện làm việc tại một số cơ sở tiếp nhận chưa bảo đảm. Công tác quản lý, hỗ trợ lao động ở nước ngoài cũng gặp khó khăn do tính chất ngắn hạn và đặc thù mùa vụ.

Đáng lưu ý, tình trạng một số lao động tự ý bỏ hợp đồng, cư trú bất hợp pháp hoặc vi phạm pháp luật nước sở tại không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của chính người lao động mà còn tác động đến uy tín của chương trình và khả năng duy trì hợp tác giữa các địa phương hai nước.

Những vấn đề này cho thấy mở rộng cơ hội việc làm cần song hành với hoàn thiện cơ chế quản lý. Đại diện các địa phương kiến nghị Chính phủ tiếp tục cho phép triển khai chương trình do tính phù hợp với năng lực, trình độ của lao động địa phương; đồng thời nghiên cứu bổ sung hình thức hợp tác đưa lao động thời vụ giữa chính quyền địa phương Việt Nam và đối tác nước ngoài vào Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sửa đổi.

Một yêu cầu quan trọng khác là xây dựng quy định thống nhất về nguồn kinh phí, mức phí tối đa đối với các hoạt động hành chính, dịch vụ và quản lý lao động ở nước ngoài. Cơ chế ký quỹ, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, xử lý trường hợp vi phạm và giải quyết khoản tiền ký quỹ cũng cần được hướng dẫn rõ ràng, bảo đảm tính khả thi và quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Cùng với hoàn thiện quy định, công tác tuyển chọn phải được thực hiện đúng đối tượng, ưu tiên lao động là người dân địa phương, có nhu cầu làm việc thực sự, đáp ứng yêu cầu sức khỏe và có ý thức kỷ luật. Việc cung cấp đầy đủ thông tin về công việc, tiền lương, điều kiện sinh hoạt, bảo hiểm và trách nhiệm theo hợp đồng trước khi xuất cảnh sẽ giúp người lao động chủ động chuẩn bị, hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng thích ứng với môi trường làm việc ở nước ngoài.

Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh Nguyễn Mạnh Cường khẳng định Thành phố sẽ tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ người lao động, nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai nghiêm túc những kết luận, chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Nội vụ.

Theo Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng, Bộ Nội vụ sẽ tổng hợp các ý kiến, đánh giá toàn diện kết quả và những hạn chế của chương trình để trình Chính phủ xem xét ban hành nghị quyết mới cho phép tiếp tục thí điểm. Đồng thời, Bộ nghiên cứu cơ sở pháp lý phù hợp nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Việc tổng kết Nghị quyết số 59/NQ-CP vì vậy không chỉ nhằm đánh giá một chương trình hợp tác lao động mà còn là cơ sở để hoàn thiện chính sách theo hướng minh bạch, đồng bộ và lấy người lao động làm trung tâm. Khi cơ chế quản lý được chuẩn hóa, trách nhiệm của các bên được xác định rõ và quyền lợi người lao động được bảo vệ hiệu quả, chương trình sẽ có điều kiện phát huy giá trị kinh tế, xã hội, góp phần tạo sinh kế ổn định và thúc đẩy hợp tác lao động Việt Nam – Hàn Quốc bền vững hơn.

Hải Phong - Bạch Dương