Từ mã số vùng trồng đến “hộ chiếu số” cho nông sản Đắk Lắk

Chiến dịch “30 ngày đêm” cùng Bản đồ số nông sản đang giúp Đắk Lắk đẩy nhanh quá trình số hóa dữ liệu vùng trồng và cơ sở đóng gói. Không chỉ phục vụ quản lý, hệ thống dữ liệu này còn được kỳ vọng trở thành nền tảng truy xuất nguồn gốc, kết nối vùng nguyên liệu với doanh nghiệp và mở rộng dư địa xuất khẩu cho các nông sản chủ lực.

Số hóa dữ liệu, chuẩn hóa vùng nguyên liệu 

Ngày 7/8, UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức ra mắt Bản đồ số nông sản, sản phẩm OCOP và du lịch thôn, buôn, đồng thời phát động chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” nhằm số hóa, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sầu riêng với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đây là bước tiến trong quá trình xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý và phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại. Dữ liệu về vùng trồng, diện tích, tọa độ, cơ sở đóng gói và các thông tin liên quan sẽ được chuẩn hóa, số hóa và tích hợp trên cùng một nền tảng, thay cho phương thức quản lý phân tán và phụ thuộc nhiều vào hồ sơ thủ công.

Từ mã số vùng trồng đến “hộ chiếu số” cho nông sản Đắk Lắk - Ảnh 1

Đắk Lắk có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp hàng hóa với nhiều sản phẩm có giá trị và tiềm năng xuất khẩu như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, mắc ca. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng nâng cao yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát vùng nguyên liệu và nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu.

Theo kế hoạch, từ ngày 7/8 đến 7/9/2026, địa phương triển khai chiến dịch “30 ngày đêm” nhằm xử lý các tồn tại liên quan đến mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Trong thời gian này, Đắk Lắk dự kiến số hóa dữ liệu của khoảng 280 mã số vùng trồng, với tổng diện tích gần 7.500 ha và 42 cơ sở đóng gói đủ điều kiện xuất khẩu. Đồng thời, địa phương tiếp tục hoàn thiện hồ sơ cho 338 mã số vùng trồng với khoảng 6.500 ha và hơn 93 cơ sở đóng gói đang đề nghị cấp mới. Toàn bộ dữ liệu được định hướng chuẩn hóa trên nền tảng bản đồ số, xác định cụ thể vị trí vùng sản xuất, tích hợp thông tin và hồ sơ liên quan, đồng thời kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia.

Minh bạch nguồn gốc, tăng sức cạnh tranh xuất khẩu 

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn tạo thêm công cụ cho doanh nghiệp trong quá trình phát triển vùng nguyên liệu. Khi thông tin về vùng trồng và cơ sở đóng gói được chuẩn hóa, doanh nghiệp có thể thuận lợi hơn trong việc xác minh nguồn gốc, tìm kiếm vùng nguyên liệu phù hợp và xây dựng liên kết với nông dân, hợp tác xã.

Chiến dịch được triển khai theo nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng” cũng được kỳ vọng giảm kê khai trùng lặp, tiết kiệm thời gian và hạn chế thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp. Dữ liệu sau khi chuẩn hóa có thể được khai thác cho nhiều mục đích, từ quản lý sản xuất, kiểm soát vùng nguyên liệu đến xúc tiến thương mại và kết nối cung - cầu.

Đặc biệt, đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như sầu riêng, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và kiểm soát vùng nguyên liệu ngày càng trở thành yếu tố quan trọng để duy trì thị trường. Hệ thống dữ liệu chính xác sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý tăng hiệu quả giám sát, đồng thời giúp doanh nghiệp có cơ sở chứng minh nguồn gốc và quá trình sản xuất khi làm việc với đối tác nhập khẩu.

Đại diện Bộ NN&MT cùng Lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk thể hiện nghi thức ra mắt Bản đồ số nông sản, sản phẩm OCOP và du lịch thôn buôn trên nền tảng số
Đại diện Bộ NN&MT cùng Lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk thể hiện nghi thức ra mắt Bản đồ số nông sản, sản phẩm OCOP và du lịch thôn buôn trên nền tảng số

Ở góc độ thị trường, dữ liệu vùng trồng còn giúp nâng cao tính minh bạch của nông sản. Khi thông tin về vị trí, diện tích, sản phẩm và cơ sở đóng gói được cập nhật, việc kiểm tra, xác minh nguồn gốc có thể được thực hiện nhanh chóng hơn, qua đó giảm nguy cơ gian lận và củng cố niềm tin đối với sản phẩm. Tuy nhiên, số hóa chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng kiểm soát chất lượng. Cùng với việc hoàn thiện dữ liệu, công tác kiểm tra, giám sát vùng trồng và cơ sở đóng gói vẫn cần được thực hiện chặt chẽ nhằm bảo đảm sản phẩm đáp ứng đúng các tiêu chuẩn đã đăng ký. Đây là điều kiện để mã số vùng trồng thực sự trở thành công cụ nâng cao uy tín và giá trị nông sản.

Hình thành "hộ chiếu số" cho nông sản 

Từ nền tảng dữ liệu vùng trồng, Đắk Lắk có cơ sở từng bước hình thành hệ thống quản lý xuyên suốt từ sản xuất đến tiêu thụ và xuất khẩu. Khi dữ liệu được cập nhật thường xuyên, địa phương có thể xây dựng kho dữ liệu dùng chung phục vụ quản lý, hoạch định sản xuất, xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp.

Để bảo đảm tiến độ, các Tổ hành động số lưu động sẽ trực tiếp đến từng vùng trồng để định vị tọa độ, cập nhật hồ sơ và kiểm tra dữ liệu tại hiện trường. Địa phương đồng thời rà soát hạ tầng công nghệ, tăng cường an toàn thông tin và mở rộng khả năng kết nối để doanh nghiệp khai thác dữ liệu phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.

Từ mã số vùng trồng đến “hộ chiếu số” cho nông sản Đắk Lắk - Ảnh 2

Bên cạnh dữ liệu nông nghiệp, Bản đồ số còn tích hợp thông tin về sản phẩm OCOP và các điểm du lịch cộng đồng. Việc kết nối dữ liệu sản phẩm với vùng sản xuất và điểm đến có thể tạo thêm cơ hội quảng bá nông sản, phát triển du lịch trải nghiệm và nâng cao giá trị thương hiệu địa phương. Đối với các sản phẩm như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu và mắc ca, việc số hóa thông tin vùng sản xuất cũng góp phần làm rõ nguồn gốc và câu chuyện của sản phẩm. Đây là cơ sở để doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu, mở rộng thị trường và từng bước giảm sự phụ thuộc vào cạnh tranh bằng giá.

Sau chiến dịch “30 ngày đêm”, dữ liệu được định hướng tiếp tục cập nhật theo tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, kết nối với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Điều này giúp dữ liệu vùng trồng không chỉ phục vụ cấp mã mà trở thành nguồn thông tin được cập nhật liên tục cho quá trình quản lý và phát triển chuỗi giá trị.

Nếu được triển khai đồng bộ, Bản đồ số và hệ thống truy xuất nguồn gốc sẽ trở thành một phần quan trọng trong hạ tầng số của ngành nông nghiệp Đắk Lắk. Khi đó, mỗi vùng trồng, cơ sở đóng gói và sản phẩm không chỉ được quản lý bằng mã số mà còn gắn với một hệ thống dữ liệu có khả năng xác thực và truy xuất. Đây cũng là nền tảng để hình thành “hộ chiếu số” cho nông sản Đắk Lắk, giúp sản phẩm minh bạch hơn về nguồn gốc, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các thị trường nhập khẩu và tạo thêm dư địa gia tăng giá trị trong chuỗi xuất khẩu.

Minh Khuê