Tuyên Quang đánh thức “mỏ vàng xanh” từ những cây chè cổ thụ

Giữa những tầng mây phủ kín dãy Tây Côn Lĩnh, hàng nghìn cây chè Shan tuyết cổ thụ vẫn lặng lẽ sinh trưởng trên các sườn núi cao như đã tồn tại suốt hàng trăm năm qua. Với người Dao, người Mông ở vùng cao Tuyên Quang, những gốc chè ấy không chỉ là cây trồng mà còn là tài sản được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Kho tàng di sản giữa Tây Côn Lĩnh

Ngày nay, khi giá trị của chè Shan tuyết ngày càng được khẳng định trên thị trường trong và ngoài nước, nguồn tài nguyên quý của núi rừng đang trở thành động lực phát triển kinh tế, góp phần tạo sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao.

Tuyên Quang đánh thức “mỏ vàng xanh” từ những cây chè cổ thụ - Ảnh 1

Tuyên Quang hiện là địa phương có diện tích chè lớn nhất cả nước với hơn 27.500 ha, trong đó trên 19.000 ha là chè Shan tuyết. Đặc biệt, tỉnh sở hữu hơn 7.000 ha chè Shan tuyết cổ thụ cùng 1.629 cây đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam.

Những vùng chè nổi tiếng như Hồ Thầu, Thông Nguyên, Cao Bồ, Nậm Dịch hay Hồng Thái đang lưu giữ nguồn gen quý hiếm được nhiều nhà khoa học đánh giá là một trong những thủy tổ của cây chè Việt Nam.

Khác với các vùng chè sản xuất đại trà ở trung du và đồng bằng, chè Shan tuyết Tuyên Quang sinh trưởng ở độ cao từ 800 đến hơn 1.500 mét so với mực nước biển. Điều kiện khí hậu mát mẻ quanh năm, độ ẩm cao cùng hệ sinh thái rừng nguyên sinh đã tạo nên hương vị đặc trưng khó trộn lẫn cho từng búp chè.

Ông Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang cho biết, chè Shan tuyết là lợi thế đặc biệt mà không nhiều địa phương sở hữu. Bên cạnh giá trị kinh tế, loại cây này còn mang giá trị văn hóa, lịch sử và sinh thái, tạo nền tảng để địa phương phát triển nông nghiệp hữu cơ và xây dựng các chuỗi giá trị bền vững.

Tại xã Hồ Thầu, cây chè từ lâu đã trở thành một phần đời sống của người dân. Theo ông Lý Chòi Nhàn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hồ Thầu, nhiều hộ gia đình hiện vẫn sở hữu những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi được truyền lại từ thế hệ trước.

"Cây chè không chỉ tạo thu nhập mà còn giúp người dân gắn bó với rừng. Khi thấy được giá trị kinh tế từ chè Shan tuyết, bà con có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng và gìn giữ những cây chè cổ cho thế hệ sau", ông Nhàn chia sẻ.

Gia tăng giá trị từ chế biến sâu

Trong nhiều năm, chè Shan tuyết chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu hoặc sản phẩm sơ chế nên giá trị mang lại chưa tương xứng với tiềm năng. Sự thay đổi chỉ thực sự rõ nét khi các doanh nghiệp và hợp tác xã bắt đầu đầu tư vào chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tiếp cận các phân khúc trà đặc sản. Từ những búp chè cổ thụ, nhiều dòng sản phẩm giá trị cao như bạch trà, hồng trà, trà xanh đặc sản hay trà Phổ Nhĩ đã được phát triển và đưa ra thị trường.

Ông Đặng Ngọc Phố, Giám đốc Hợp tác xã Sơn Trà cho rằng giá trị của chè Shan tuyết không chỉ nằm ở chất lượng nguyên liệu mà còn ở câu chuyện văn hóa gắn liền với vùng đất và con người nơi đây.

"Khách hàng hiện nay không chỉ mua trà mà còn quan tâm đến nguồn gốc sản phẩm, lịch sử của những cây chè cổ thụ và câu chuyện của cộng đồng đã gìn giữ chúng qua nhiều thế hệ. Đó là giá trị khác biệt mà rất ít vùng chè có được", ông Phố nói.

Nhờ định hướng nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu, nhiều sản phẩm chè Shan tuyết của Tuyên Quang đã từng bước chinh phục thị trường quốc tế. Hiện toàn tỉnh có 49 sản phẩm chè đạt chứng nhận OCOP từ 3 đến 5 sao, trong đó có 3 sản phẩm đạt OCOP 5 sao cấp quốc gia.

Các sản phẩm trà đặc sản của địa phương đã có mặt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhiều dòng trà cao cấp hiện được bán với giá từ vài trăm nghìn đến hàng triệu đồng mỗi kilogram, cao gấp nhiều lần so với giá chè nguyên liệu trước đây.

Hướng tới ngành hàng giá trị cao

Theo người dân địa phương, sự phát triển của các hợp tác xã và doanh nghiệp đã giúp thay đổi đáng kể phương thức sản xuất. Thay vì bán chè tươi cho thương lái như trước đây, người trồng chè được hướng dẫn quy trình chăm sóc, thu hái và bảo quản theo tiêu chuẩn, đồng thời được liên kết tiêu thụ ổn định.

Từ đó, thu nhập của người dân từng bước được cải thiện, còn những cây chè cổ thụ được nhìn nhận như tài sản lâu dài cần được bảo vệ thay vì khai thác ngắn hạn.

Các chuyên gia đánh giá dư địa phát triển của chè Shan tuyết Tuyên Quang vẫn còn rất lớn. Bên cạnh mở rộng diện tích sản xuất hữu cơ, địa phương đang hướng tới phát triển các sản phẩm chế biến sâu, ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu quốc tế và gắn ngành chè với du lịch trải nghiệm.

Từ những gốc chè cổ bám rễ trên các triền núi Tây Côn Lĩnh, một ngành hàng giá trị cao đang dần hình thành. Mỗi búp chè không chỉ mang theo hương vị đặc trưng của núi rừng mà còn phản ánh nỗ lực của địa phương trong việc chuyển hóa tài nguyên bản địa thành động lực phát triển kinh tế.

Hành trình ấy cho thấy, khi được đầu tư đúng hướng và khai thác bền vững, những "báu vật" của đại ngàn không chỉ được bảo tồn mà còn có thể trở thành nguồn lực quan trọng giúp nâng cao đời sống cho người dân vùng cao và đưa thương hiệu nông sản Việt Nam vươn xa trên thị trường thế giới.