Cây chè: Sinh kế bền vững giúp phụ nữ vùng cao Lào Cai làm chủ kinh tế

Từ những nương chè trên sườn núi Lào Cai, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số đã vươn lên làm chủ kinh tế, xây dựng sinh kế bền vững, tự tin thoát nghèo và khẳng định vai trò trong phát triển cộng đồng.

Trong bức tranh phát triển kinh tế nông nghiệp miền núi phía Bắc, cây chè từ lâu đã khẳng định vị thế là cây trồng chủ lực, gắn bó bền bỉ với đời sống người dân vùng cao. Tại Lào Cai – địa phương có điều kiện tự nhiên đặc thù về khí hậu, thổ nhưỡng và độ cao, cây chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế ổn định mà còn trở thành “điểm tựa sinh kế” quan trọng, đặc biệt đối với phụ nữ dân tộc thiểu số. Từ những nương chè trên sườn núi, nhiều phụ nữ đã vươn lên làm chủ kinh tế gia đình, tự tin khẳng định vai trò trong phát triển cộng đồng.

Từ những nương chè trên sườn núi Lào Cai, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số đã vươn lên làm chủ kinh tế và tự tin thoát nghèo.
Từ những nương chè trên sườn núi Lào Cai, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số đã vươn lên làm chủ kinh tế và tự tin thoát nghèo.

Trên sườn dốc cao của thôn Piềng Láo, xã Mường Hum, đồi chè xanh mướt của gia đình chị Lý Thị Vinh, dân tộc Giáy, là minh chứng rõ nét cho hiệu quả kinh tế của cây chè. Trước đây, diện tích này được trồng một số loại cây lâu năm nhưng cho thu nhập thấp, không ổn định. Nhận thấy nhiều hộ trong thôn trồng chè có cuộc sống dần khấm khá, hơn 10 năm trước, chị Vinh mạnh dạn chuyển đổi 0,5 ha cây trồng kém hiệu quả sang trồng chè. Nhờ đặc tính dễ chăm sóc, phù hợp điều kiện tự nhiên vùng cao, cùng việc học hỏi kỹ thuật canh tác, thu hái từ chính những phụ nữ trong thôn, sau 3–4 năm, nương chè đã cho thu hoạch ổn định. Hiện nay, diện tích này mang lại cho gia đình chị nguồn thu nhập vài chục triệu đồng mỗi năm, một khoản thu bền vững và đáng kể đối với hộ gia đình miền núi.

Chị Lý Thị Vinh cần mẫn chăm sóc, thu hái chè trên nương chè của gia đình.
Chị Lý Thị Vinh cần mẫn chăm sóc, thu hái chè trên nương chè của gia đình.

Theo chị Vinh, so với nhiều loại cây trồng khác, cây chè ít rủi ro, không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hoạch kéo dài và cho thu nhập đều đặn quanh năm. Chính những ưu điểm đó đã giúp phụ nữ vùng cao, vốn chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện sản xuất và cơ hội việc làm, có thêm sự tự tin để gắn bó với sản xuất nông nghiệp và chủ động hơn trong đời sống kinh tế.

Không dừng lại ở sản xuất nguyên liệu, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số Lào Cai còn mạnh dạn tiến lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị cây chè. Câu chuyện khởi nghiệp từ cây chè của chị Chang Thị Ly, thôn Pang Cáng, xã Văn Chấn là một ví dụ tiêu biểu. Ban đầu, chị Ly thu mua chè búp tươi bán cho nhà máy và nhận thấy giá trị kinh tế ổn định của loại cây trồng này. Từ đó, chị quyết định đầu tư trồng chè để tạo sinh kế lâu dài. Năm 2006, gia đình chị sở hữu 2 ha chè, từng bước mở rộng quy mô, đầu tư máy móc, nhà xưởng và tự sao chế chè để bán ra thị trường.

Bằng sự cần cù, sáng tạo và không ngừng học hỏi, chị Ly đã xây dựng được thương hiệu trà riêng với chất lượng ổn định và kỹ thuật sản xuất đặc trưng. Thu nhập từ cây chè hiện đạt vài trăm triệu đồng mỗi năm – mức thu nhập đáng mơ ước đối với phụ nữ dân tộc thiểu số vùng cao. Quan trọng hơn, từ cây chè, chị Ly không chỉ làm giàu cho gia đình mà còn tạo động lực, lan tỏa tinh thần vươn lên cho nhiều phụ nữ khác trong cộng đồng.

Những câu chuyện cá nhân ấy phản ánh bức tranh chung của ngành chè Lào Cai. Toàn tỉnh hiện có hơn 16.000 ha chè, sản lượng chè búp tươi năm 2025 đạt trên 128,9 nghìn tấn, giá trị sản xuất ước hơn 960 tỷ đồng. Cùng với mở rộng diện tích, Lào Cai chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, đẩy mạnh phát triển chè theo tiêu chuẩn hữu cơ với hơn 2.400 ha. Nhiều vùng chè như Bản Liền, Phìn Hồ, Sơn Lương đã đạt chứng nhận hữu cơ quốc tế, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Đáng chú ý, phụ nữ dân tộc thiểu số ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Với tính cần cù, tỉ mỉ và khả năng tiếp thu kỹ thuật tốt, họ không chỉ tham gia sản xuất mà còn chủ động ứng dụng khoa học – công nghệ, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm trên các nền tảng số. Cây chè vì thế không chỉ là cây trồng kinh tế mà còn là “công cụ trao quyền”, giúp phụ nữ vùng cao nâng cao vị thế, tham gia tích cực hơn vào các hoạt động xã hội và phát triển địa phương.

Trong bối cảnh Lào Cai thường xuyên đối mặt với thiên tai, biến đổi khí hậu và những rủi ro sinh kế, việc phát triển những mô hình sản xuất bền vững như cây chè có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thu nhập ổn định từ chè giúp phụ nữ dân tộc thiểu số chăm lo tốt hơn cho gia đình, đầu tư cho giáo dục con cái, từng bước thoát nghèo và hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Có thể khẳng định, cây chè không chỉ đóng vai trò trụ cột trong kinh tế nông nghiệp Lào Cai mà còn là biểu tượng của sinh kế bền vững, của sự vươn lên mạnh mẽ của phụ nữ vùng cao. Từ những nương chè xanh trên sườn núi, một tương lai phát triển bao trùm, bình đẳng và bền vững đang dần được vun đắp.

Hiền Nguyễn

Từ khóa: