Đà Nẵng - thách thức trong bảo vệ môi trường

Áp lực xử lý rác thải, hạn chế về hạ tầng quan trắc và thiếu hụt không gian xanh là những vấn đề Đà Nẵng cần tập trung giải quyết sau 5 năm thực hiện Đề án môi trường. Việc rà soát các mục tiêu giai đoạn 2026–2030 được đặt ra trong bối cảnh địa bàn quản lý mở rộng sau sáp nhập.

Áp lực từ những điểm nghẽn hạ tầng

Kết quả 5 năm thực hiện Đề án cho thấy công tác bảo vệ môi trường tại Đà Nẵng đạt một số chuyển biến, song nhiều mục tiêu vẫn chưa hoàn thành. Đến năm 2025, trong 29 tiêu chí được đánh giá, có 16 tiêu chí đạt mục tiêu, 7 tiêu chí chưa đạt, 6 tiêu chí chưa xác định và cần tiếp tục rà soát; một tiêu chí chưa đến hạn đánh giá.

Những hạn chế tập trung ở hạ tầng xử lý chất thải, kiểm soát nguồn thải và phát triển không gian xanh. Đây đều là những lĩnh vực cần nguồn vốn lớn, giải pháp kỹ thuật đồng bộ và thời gian triển khai dài.

Bãi rác Khánh Sơn tiếp nhận khoảng 1.200 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày, tạo áp lực lớn lên năng lực xử lý và yêu cầu bảo đảm vệ sinh môi trường. Ảnh: M.C
Bãi rác Khánh Sơn tiếp nhận khoảng 1.200 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày, tạo áp lực lớn lên năng lực xử lý và yêu cầu bảo đảm vệ sinh môi trường. Ảnh: M.C

Nổi bật là áp lực tiếp nhận, xử lý rác thải sinh hoạt. Tại bãi rác Khánh Sơn, các hộc chôn lấp tiếp nhận khoảng 1.200 tấn rác mỗi ngày. Ở phía nam thành phố, khu xử lý Tam Xuân 2 tiếp nhận khoảng 500 tấn/ngày, có thời điểm vượt công suất. Khu xử lý Tam Nghĩa tiếp nhận 82–117 tấn/ngày, trong khi công suất thiết kế là 82 tấn/ngày. Sau nhiều năm vận hành, các hộc chứa tại đây đang tiến gần ngưỡng thiết kế.

Trong giai đoạn 2021–2023, thành phố chưa đưa được nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ mới vào vận hành. Rác vẫn chủ yếu được xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh. Việc thu hút đầu tư nhà máy xử lý gặp khó khăn do vướng mắc về thủ tục, cơ chế đầu tư, thời gian cung cấp nguồn rác và nhu cầu vốn lớn đối với công nghệ đốt rác phát điện.

Chất thải xây dựng cũng chưa có giải pháp xử lý đồng bộ. Trước sáp nhập, Đà Nẵng và Quảng Nam chủ yếu bố trí các điểm tập kết, chưa hình thành hệ thống nhà máy và công nghệ tái chế chuyên biệt. Trong bối cảnh đô thị hóa và nhu cầu xây dựng gia tăng, tình trạng thiếu cơ sở thu gom, tái chế gây thêm sức ép lên quỹ đất và công tác quản lý.

Phân loại rác tại nguồn đã được triển khai tại nhiều địa phương nhưng hiệu quả thực tế chưa được lượng hóa đầy đủ. Hoạt động này chủ yếu dựa vào tuyên truyền, hướng dẫn và khuyến khích người dân. Việc kiểm kê lượng rác tái chế, đánh giá kết quả giữa các địa phương chưa có quy trình thống nhất. Do đó, tỷ lệ hộ dân tham gia chưa phản ánh đầy đủ lượng rác được tái sử dụng, tái chế và mức giảm tải cho các khu xử lý.

Tại các khu công nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc diện phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục, tỷ lệ đáp ứng mới đạt 76,67% đối với khí thải và 57,14% đối với nước thải, thấp hơn mục tiêu trên 95%.

Ở khu dân cư, các cơ sở mộc, chế biến gỗ, cơ khí và tiểu thủ công nghiệp hoạt động xen cài tiếp tục phát sinh phản ánh về bụi, tiếng ồn, khí thải. Việc di dời hoặc chuyển đổi ngành nghề còn khó khăn do liên quan đến mặt bằng, chi phí và sinh kế của các hộ sản xuất.

Không gian xanh cũng chưa đáp ứng mục tiêu đề ra. Trước sáp nhập, diện tích cây xanh công cộng của Đà Nẵng đạt 317,44ha, bình quân 2,6m²/người, trong khi mục tiêu là 6m²/người. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 44,67%, thấp hơn mục tiêu 47%. Những khoảng cách này gắn với hạn chế về quỹ đất, quy hoạch và khả năng bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái.

Chuyển đổi công nghệ, kiểm soát chặt nguồn thải

Trước áp lực từ lượng rác phát sinh và nguy cơ quá tải tại các khu xử lý, Phó Chủ tịch UBND thành phố Trần Nam Hưng nhấn mạnh, xử lý rác thải là vấn đề “an ninh” môi trường của thành phố.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Trần Nam Hưng kiểm tra thực tế công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn, yêu cầu bảo đảm vệ sinh môi trường và hạn chế ảnh hưởng đến khu dân cư. Ảnh: M.C
Phó Chủ tịch UBND thành phố Trần Nam Hưng kiểm tra thực tế công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn, yêu cầu bảo đảm vệ sinh môi trường và hạn chế ảnh hưởng đến khu dân cư. Ảnh: M.C

Theo ông Trần Nam Hưng, rác thải trên địa bàn hiện vẫn chủ yếu được xử lý bằng hình thức chôn lấp tại Khánh Sơn, Đại Hiệp, Tam Xuân 2 và Tam Nghĩa. Việc duy trì hoạt động các bãi rác là cần thiết để bảo đảm vệ sinh môi trường chung, nhưng phải kiểm soát chặt quy trình vận hành, hạn chế thấp nhất tác động đến khu dân cư lân cận.

Rác cần được xử lý theo từng lớp, phủ vôi và hóa chất; cuối mỗi ngày phải phủ bạt hoặc lấp đất để hạn chế mùi hôi, đồng thời kiểm soát chặt nước rỉ rác. Về lâu dài, thành phố định hướng từng bước chuyển sang mô hình xử lý hiện đại, khép kín, giảm dần tỷ lệ chôn lấp, thúc đẩy tái chế, tái sử dụng và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Đối với lĩnh vực công nghiệp, định hướng phát triển khu công nghiệp sinh thái, sản xuất sạch hơn và các giải pháp phát thải carbon thấp được đặt ra trong bối cảnh quy mô sản xuất mở rộng. Sau sáp nhập, thành phố có 19 khu công nghiệp và một khu công nghệ cao với 30 dự án đang hoạt động.

Tuy nhiên, một số khu công nghiệp đã vận hành hơn 20 năm, hạ tầng xuống cấp, nhiều cơ sở sử dụng công nghệ cũ. Quá trình chuyển đổi cần gắn với nâng cấp hệ thống hạ tầng môi trường, đổi mới công nghệ và hoàn thiện dữ liệu về nguyên liệu, phát thải để tạo cơ sở triển khai cộng sinh công nghiệp, sử dụng hiệu quả tài nguyên.

Kiểm soát nguồn thải cũng cần gắn với quy hoạch không gian. Báo cáo ghi nhận có doanh nghiệp xả thải đạt quy chuẩn nhưng vẫn ảnh hưởng đến khu dân cư do khoảng cách cách ly không bảo đảm. Vì vậy, việc bố trí nhà ở, trường học và công trình dân sinh gần khu sản xuất cần được xem xét đồng bộ, hạn chế xung đột môi trường trong quá trình đô thị hóa.

Cùng với đó, thành phố định hướng thúc đẩy năng lượng tái tạo, giao thông xanh, tái sử dụng nước thải và phát triển các sản phẩm thay thế nhựa dùng một lần. Để các giải pháp giảm phát thải có thể triển khai và đánh giá hiệu quả, việc khắc phục khoảng trống dữ liệu là yêu cầu quan trọng.

Rà soát mục tiêu môi trường trong không gian mới

Sau sáp nhập, Đà Nẵng có diện tích tự nhiên khoảng 11.867km², dân số hơn 3 triệu người, gồm 23 phường, 70 xã và một đặc khu. Không gian thành phố trải dài từ đô thị ven biển đến đồng bằng, nông thôn và miền núi, với điều kiện tự nhiên, mật độ dân cư và mức độ hoàn thiện hạ tầng khác nhau.

Sự thay đổi về quy mô và đặc điểm địa bàn đòi hỏi các mục tiêu môi trường phải được đánh giá trên cơ sở hiện trạng mới. Báo cáo xác định 100% tiêu chí của Đề án cần được rà soát, đánh giá lại để điều chỉnh cho giai đoạn 2026–2030. Quá trình này cần làm rõ nhu cầu, khả năng đáp ứng của từng khu vực, từ đó xác định thứ tự ưu tiên và bố trí nguồn lực phù hợp.

Trước mắt, nâng cao năng lực thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn tiếp tục là nhiệm vụ cấp thiết. Phân luồng rác, nâng công suất các trạm trung chuyển, bổ sung phương tiện và đẩy nhanh tiến độ các dự án xử lý cần được đặt trong phương án tổng thể. Việc nâng công suất tiếp nhận phải đi đôi với năng lực xử lý nước rỉ rác, kiểm soát mùi và bảo đảm an toàn vận hành.

Phân loại rác tại nguồn cũng cần kết nối thực chất với hệ thống thu gom, vận chuyển và tái chế. Khi lượng rác đã phân loại được tiếp nhận, xử lý theo đúng quy trình, hoạt động này mới có thể góp phần giảm áp lực cho các khu chôn lấp.

Trong lĩnh vực bảo tồn, không gian sinh thái mở rộng tạo thêm yêu cầu đối với công tác quản lý rừng, nguồn nước và đa dạng sinh học. Riêng khu vực Quảng Nam trước sáp nhập có khoảng 680.806ha đất có rừng. Việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng lớn cần gắn với phòng ngừa thiên tai, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm điều kiện sinh sống của cộng đồng miền núi.

Bài toán môi trường của Đà Nẵng vì vậy không dừng ở việc xử lý những điểm nóng trước mắt. Thành phố cần đồng thờinâng cấp hạ tầng, đổi mới công nghệ, hoàn thiện dữ liệu và tăng cường phối hợp quản lý trên toàn địa bàn.

Kết quả 5 năm thực hiện Đề án cho thấy những chuyển biến đã đạt được, nhưng cũng bộc lộ khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực thực tế. Trong giai đoạn 2026–2030, việc chuyển các định hướng thành nhiệm vụ cụ thể, có lộ trình và nguồn lực phù hợp sẽ quyết định hiệu quả bảo vệ môi trường, từ khu vực đô thị ven biển đến các địa bàn miền núi.

Bùi Quốc Dũng