Ảnh minh họa
Thêm nguồn lực để đầu tư, mở rộng sản xuất
Với các doanh nghiệp nhỏ, mỗi khoản chi phí được tiết giảm đều có ý nghĩa đối với dòng tiền. Phần nguồn lực được giữ lại có thể được sử dụng để đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất hoặc duy trì việc làm.
Nếu chính sách giảm 30% thuế thu nhập được áp dụng cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp, hộ kinh doanh thuộc diện hưởng lợi, tác động sẽ không chỉ nằm ở từng cơ sở sản xuất, kinh doanh. Nguồn lực được giải phóng có thể tiếp tục được đưa vào nền kinh tế thông qua tiêu dùng, đầu tư và mở rộng năng lực sản xuất.
Đây cũng là vấn đề cần được nhìn nhận trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Động lực tăng trưởng không thể chỉ dựa vào đầu tư công hay khu vực đầu tư nước ngoài. Một khu vực kinh tế tư nhân đủ mạnh, có khả năng tích lũy và liên tục mở rộng quy mô sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra động lực tăng trưởng mới.
Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Để khu vực này thực sự phát huy vai trò, doanh nghiệp cần có khả năng tích lũy vốn, tái đầu tư và nâng cao năng lực sản xuất.
Từ góc độ này, giảm thuế không nên chỉ được nhìn như việc Nhà nước giảm một phần nguồn thu ngân sách trong ngắn hạn. Quan trọng hơn là khoản tiền doanh nghiệp được giữ lại sẽ được sử dụng như thế nào.
Nếu nguồn lực đó được chuyển thành máy móc mới, công nghệ mới, thêm việc làm và năng lực sản xuất mới, chính sách giảm thuế sẽ trở thành một khoản đầu tư cho tăng trưởng. Nhà nước chấp nhận giảm một phần nguồn thu trước mắt để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, qua đó mở rộng nền tảng thu ngân sách trong tương lai.
Một doanh nghiệp có thêm nguồn lực để đầu tư sẽ có khả năng tăng năng suất, mở rộng thị trường và tạo thêm việc làm. Khi nhiều doanh nghiệp cùng phát triển, tác động cộng hưởng có thể tạo ra sức lan tỏa lớn hơn đối với nền kinh tế.
Giảm thuế phải đi cùng cải cách thể chế
Tuy nhiên, chính sách giảm thuế sẽ không thể giải quyết toàn bộ những khó khăn mà doanh nghiệp đang đối mặt. Trên thực tế, giảm thuế thu nhập chỉ mang lại tác động trực tiếp đối với những doanh nghiệp đang có lợi nhuận. Với doanh nghiệp thua lỗ hoặc có lợi nhuận thấp, phần thuế được giảm có thể không lớn. Trong khi đó, các khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh và thực hiện thủ tục hành chính vẫn là gánh nặng đáng kể.
Vì vậy, điều doanh nghiệp cần không chỉ là một chính sách ưu đãi về thuế, mà còn là môi trường kinh doanh thuận lợi, ổn định và có khả năng dự báo. Những kiến nghị được cộng đồng doanh nghiệp đặt ra trong thời gian qua vẫn tập trung vào việc cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ và cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng.
Bởi với doanh nghiệp, chi phí không chỉ được tính bằng tiền. Thời gian chờ đợi, nguồn lực dành cho thủ tục, những quy định chồng chéo hoặc thay đổi thiếu ổn định cũng có thể làm hao hụt đáng kể nguồn lực.
Do đó, hiệu quả của chính sách giảm thuế sẽ lớn hơn nếu được đặt trong một tổng thể cải cách thể chế. Doanh nghiệp không chỉ được giảm một đồng thuế mà còn giảm được chi phí tuân thủ, thời gian chờ đợi và những rủi ro phát sinh từ môi trường pháp lý thiếu ổn định. Khi đó, nguồn lực thực sự được giải phóng cho sản xuất, kinh doanh sẽ lớn hơn nhiều.
Chính sách giảm thuế cũng có thể tạo thêm động lực để hộ kinh doanh chuyển sang mô hình doanh nghiệp. Khi chính thức chuyển đổi, các chủ thể kinh doanh có thêm cơ hội tiếp cận tín dụng, đầu tư công nghệ, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Quá trình này nếu được hỗ trợ bằng một môi trường kinh doanh thuận lợi có thể tạo ra sự chuyển biến về chất của khu vực kinh tế tư nhân. Doanh nghiệp nhỏ có cơ hội trở thành doanh nghiệp vừa; doanh nghiệp vừa có điều kiện tiếp tục mở rộng quy mô. Khi đó, nền kinh tế không chỉ tăng về số lượng doanh nghiệp mà còn nâng cao chất lượng và năng lực của khu vực tư nhân.
Tất nhiên, việc giảm thu ngân sách trong ngắn hạn sẽ tạo ra áp lực nhất định đối với cân đối ngân sách. Nhưng nếu nhìn trong dài hạn, một doanh nghiệp phát triển sẽ tạo thêm việc làm, mở rộng sản xuất, nâng năng suất và có khả năng đóng góp ngân sách nhiều hơn.
Một khu vực kinh tế tư nhân lớn mạnh cũng đồng nghĩa với một nền tảng thu ngân sách rộng hơn và bền vững hơn.
Vì vậy, giảm 30% thuế trong năm 2026-2027 nên được xem là một bước đi trong chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng mục tiêu không chỉ dừng ở việc giúp doanh nghiệp “dễ thở” hơn trong một vài năm.
Điều quan trọng hơn là biến phần nguồn lực được giữ lại thành vốn đầu tư mới, công nghệ mới, việc làm mới và những doanh nghiệp có khả năng lớn lên.
Nếu chính sách giảm thuế được triển khai đồng thời với việc khơi thông các điểm nghẽn thể chế, giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục và tạo dựng môi trường kinh doanh ổn định, hiệu quả chính sách sẽ được nhân lên.
Khi đó, giảm thuế không đơn thuần là một biện pháp hỗ trợ tài chính trong ngắn hạn, mà có thể trở thành một phần của chiến lược nuôi dưỡng khu vực kinh tế tư nhân: tạo điều kiện cho doanh nghiệp hôm nay tích lũy và phát triển, từ đó hình thành nguồn thu và động lực tăng trưởng bền vững hơn cho nền kinh tế trong tương lai.
Hải Phong - Bạch Dương