Nâng giá trị chè Thái Nguyên bằng chứng nhận OCOP và không gian sinh thái

Nhằm hướng tới mục tiêu đưa tổng giá trị ngành chè đạt 25.000 tỷ đồng vào năm 2030, tỉnh Thái Nguyên đang triển khai các giải pháp chuyển đổi phương thức canh tác truyền thống sang mô hình hữu cơ, tạo cơ sở kết hợp phát triển du lịch trải nghiệm.

Thực trạng về tỷ lệ chứng nhận tiêu chuẩn trên diện tích canh tác

Với tổng diện tích canh tác chè đạt hơn 22.000 héc-ta, Thái Nguyên hiện là một trong những vùng nguyên liệu lớn nhất cả nước. Dù sản lượng và vị thế thương hiệu đã được khẳng định, ngành chè địa phương vẫn đối mặt với thách thức lớn về mặt chuẩn hóa chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế hoặc hữu cơ chuyên sâu.

Số liệu thống kê cho thấy diện tích chè được cấp chứng nhận VietGAP hiện đạt 5.963 héc-ta, chiếm khoảng 25% tổng diện tích. Trong khi đó, diện tích đạt tiêu chuẩn hữu cơ chỉ ở mức 179 héc-ta, tương đương 0,8% toàn tỉnh. Thực tế này xuất phát từ việc sản xuất chủ yếu vẫn ở quy mô nông hộ nhỏ lẻ, trình độ kỹ thuật và năng lực liên kết chuỗi giá trị của người dân chưa đồng đều, cùng với hạ tầng chế biến sâu chưa được đầu tư đồng bộ. 

Nâng giá trị chè Thái Nguyên bằng chứng nhận OCOP và không gian sinh thái - Ảnh 1

Để cải thiện các chỉ số này, Trung tâm Khuyến nông và Môi trường tỉnh Thái Nguyên đang triển khai dự án "Xây dựng mô hình sản xuất chè xanh phục vụ phát triển sản phẩm OCOP gắn với du lịch sinh thái". Mô hình thí điểm này hướng tới việc thay đổi quy trình canh tác nông nghiệp theo hướng an toàn sinh học, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm được chứng nhận. Việc gắn kết công đoạn chế biến với đăng ký nhãn hiệu OCOP cấp tỉnh, kết hợp xây dựng các không gian trải nghiệm thực địa xung quanh đồi chè, được kỳ vọng sẽ tạo mô hình tham chiếu để nhân rộng cho các địa phương khác trong tỉnh.

Giải pháp thiết lập vùng đệm sinh học và chuyển dịch tư duy sản xuất

Mô hình thực địa của dự án được triển khai trên quy mô 10 héc-ta tại các xóm Chính Phú 1, Chính Phú 2 và Chính Phú 3 thuộc xã Phú Xuyên. Tiêu chí lựa chọn vùng canh tác là diện tích phải liền khoảnh và có vùng đệm tách biệt hoàn toàn với các khu vực sản xuất thông thường nhờ hệ thống đồi trồng cây keo bao quanh. Vị trí này giúp nương chè cách ly khỏi các nguồn ô nhiễm môi trường, khu xử lý chất thải sinh hoạt hay công nghiệp, đồng thời bảo đảm nguồn nước tưới sạch và thuận tiện về giao thông. Toàn bộ mô hình sử dụng giống chè lai LDP1 có độ tuổi bình quân 8 năm, đạt năng suất trung bình 120 tạ trên một héc-ta và được quy hoạch hàng lối theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. 

Dự án quy tụ 49 hộ dân tham gia, với điều kiện mỗi hộ có từ 0,2 héc-ta chè và tối thiểu 2 lao động trở lên. Để hỗ trợ người dân chuyển đổi thói quen, dự án áp dụng chính sách trợ giá 60% chi phí phân bón hữu cơ, chế phẩm vi sinh, đồng thời cử cán bộ kỹ thuật hướng dẫn phương pháp tự ủ phân và ghi chép nhật ký sản xuất hằng ngày. Tất cả các công đoạn từ chăm sóc, thâm canh, phòng trừ sâu bệnh bằng thuốc sinh học và thảo mộc, cho đến khâu thu hái và bảo quản búp tươi đều được giám sát chặt chẽ nhằm đáp ứng đúng các bộ tiêu chuẩn hữu cơ hiện hành.

Nâng giá trị chè Thái Nguyên bằng chứng nhận OCOP và không gian sinh thái - Ảnh 2

Kết quả bước đầu từ mô hình thí điểm và định hướng kinh tế tích hợp

Sau 3 năm triển khai, mô hình tại xã Phú Xuyên đã ghi nhận những thay đổi rõ rệt trong phương thức sản xuất của các hộ nông dân. Thói quen sử dụng phân bón hóa học vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật nồng độ cao được thay thế bằng quy trình bón lót 100% phân chuồng hoai mục kết hợp phân hữu cơ vi sinh, kết hợp phun phân sinh học bón lá sau mỗi lứa hái. Các hoạt động trên nương chè đều được cập nhật đầy đủ vào sổ nhật ký, giúp sản phẩm có dữ liệu minh bạch phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc khi đưa ra thị trường.

Việc chuẩn hóa thành công diện tích thí điểm tại Phú Xuyên mở ra cơ hội nhân rộng mô hình kinh tế tích hợp nông nghiệp - du lịch sang các vùng chè trọng điểm khác của Thái Nguyên. Khi chất lượng sản phẩm được kiểm soát đồng bộ và đạt các chứng nhận OCOP, các đồi chè không chỉ dừng lại ở vai trò sản xuất thô mà có thể phát triển thành không gian đón tiếp các tour du lịch sinh thái trải nghiệm. Mô hình này giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập cho người nông dân thông qua việc cung ứng dịch vụ phụ trợ và bán sản phẩm giá trị cao trực tiếp tại vườn, góp phần giải quyết bài toán phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững và có tính toán hiệu quả lâu dài.

Bảo An