Sự phân hóa thu nhập trong khu vực kinh tế tập thể
Hoạt động của khối kinh tế tập thể tại tỉnh Thái Nguyên đang cho thấy những kết quả tích cực, đồng thời phản ánh mức độ hiệu quả khác nhau giữa các nhóm ngành nghề. Theo báo cáo từ Liên minh Hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên tính đến nửa đầu năm 2026, toàn địa phương hiện có 1.329 hợp tác xã với hơn 47.000 thành viên và người lao động, cùng với 5.263 tổ hợp tác thu hút hơn 77.000 xã viên.
Mặc dù có tới hơn 65% tổng số hợp tác xã trên địa bàn được đánh giá hoạt động hiệu quả, khẳng định vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế nông thôn, mức thu nhập của người lao động lại có sự chênh lệch đáng kể. Trong khi thu nhập bình quân của lao động tại các hợp tác xã nông nghiệp thông thường dao động khoảng 4 - 4,5 triệu đồng/tháng và khối phi nông nghiệp đạt từ 5 - 5,5 triệu đồng/tháng, khối hợp tác xã sản xuất, chế biến chè lại ghi nhận mức thu nhập bình quân ổn định từ 9 - 10 triệu đồng/người/tháng.
Thực tế này cho thấy cây chè tiếp tục là thế mạnh cốt lõi và là nguồn thu nhập chính của khu vực kinh tế nông thôn Thái Nguyên. Các tổ hợp tác trên địa bàn hiện đạt doanh thu bình quân từ 1 - 1,2 tỷ đồng/năm, giúp xã viên duy trì mức thu nhập ổn định từ 65 - 70 triệu đồng/người/nam. Tại thủ phủ chè của cả nước, các mô hình hợp tác xã nông nghiệp chuyên về cây chè luôn chiếm số lượng áp đảo. Sự khẳng định thương hiệu của các đơn vị quy mô lớn như Hợp tác xã Chè Hảo Đạt, Chè La Bằng, Trà xanh Thái Nguyên hay An Vân Trà đã góp phần chuẩn hóa quy trình sản xuất, giúp người nông dân liên kết chặt chẽ hơn để tiếp cận thị trường tiêu thụ thay vì phương thức bán thô nhỏ lẻ trước đây.
Động lực từ danh mục sản vật địa phương và chương trình OCOP
Sức hút thương mại và biên lợi nhuận ổn định của ngành chè Thái Nguyên gắn liền với lợi thế tự nhiên từ các vùng nguyên liệu danh tiếng. Địa phương này sở hữu các vùng sản xuất lâu năm đã được định hình thương hiệu bao gồm vùng chè Tân Cương, La Bằng, Trại Cài và Khe Cốc. Sau khi thực hiện các chính sách sáp nhập địa giới hành chính, bản đồ nông sản của tỉnh được mở rộng thêm vùng chè shan tuyết Bằng Phúc, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của thị trường tiêu thụ. Việc sở hữu các vùng nguyên liệu gắn với chỉ dẫn địa lý là cơ sở để các hợp tác xã dịch chuyển từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang tích hợp giá trị văn hóa, kết hợp không gian nương chè xanh phục vụ du lịch trải nghiệm sinh thái để đa dạng hóa nguồn thu.
Bên cạnh lợi thế vùng trồng, chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) được triển khai bài bản đã giúp nâng cao giá trị cho thành phẩm. Đến nay, toàn tỉnh Thái Nguyên đã có 598 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP từ 3 đến 5 sao, trong đó có 13 sản phẩm xuất sắc đạt chuẩn 5 sao cấp quốc gia. Thống kê cho thấy giá trị kinh tế của sản phẩm sau khi đạt chuẩn OCOP đều ghi nhận mức tăng trưởng trực tiếp trên 20%. Sự cải thiện về giá bán này minh chứng cho xu hướng người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, quy trình canh tác an toàn và đóng gói chuẩn quy chuẩn, tạo nguồn tài chính để các hợp tác xã tái đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật và công nghệ chế biến sâu.
Mục tiêu dài hạn và bài toán đồng đều hóa chất lượng
Với đà phát triển hiện tại, Thái Nguyên đặt mục tiêu chiến lược đến năm 2030 có 675 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có ít nhất 15 sản phẩm đạt chuẩn 5 sao quốc gia hướng tới thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, dưới góc nhìn thương mại, để đạt được sự tăng trưởng bền vững đồng đều, ngành chè địa phương cần giải quyết các bài toán nội tại về mặt quản trị. Việc mức thu nhập cao chủ yếu tập trung ở các hợp tác xã lớn, có thương hiệu cho thấy một bộ phận các tổ hợp tác và nông hộ nhỏ lẻ ở các vùng sâu vẫn gặp khó khăn về đầu ra, kỹ thuật thâm canh chưa đồng đều và dễ chịu ảnh hưởng bởi biến động thời tiết.
Sự phát triển lâu dài của ngành chè đòi hỏi một cơ chế liên kết chuỗi dọc khép kín và chặt chẽ hơn, trong đó các hợp tác xã hạt nhân đóng vai trò dẫn dắt, chuyển giao quy trình kỹ thuật, công nghệ số và bao tiêu sản phẩm cho các hộ vệ tinh. Khi năng lực vận hành nội tại được củng cố và hạ tầng chế biến sâu được đầu tư đồng bộ, ngành chè không chỉ giữ vững vị thế dẫn đầu về thu nhập trong khối kinh tế tập thể mà còn xây dựng được hệ sinh thái tuần hoàn, giúp sản vật địa phương duy trì thị phần ổn định trong nước và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu chính ngạch.
Bảo An