Nghệ An – Cao Bằng: Hai miền quê Bác, chung một cội nguồn

Trở lại Cao Bằng trong những ngày kỷ niệm dấu mốc lịch sử thiêng liêng của dân tộc, tôi như được sống lại không khí của một miền đất từng ghi dấu bước ngoặt lớn lao trong hành trình cách mạng Việt Nam. Nơi đây, từ cội nguồn núi rừng, những chuẩn bị bền bỉ và lặng lẽ đã góp phần mở ra mùa thu độc lập cho đất nước.

Đoàn văn nghệ sĩ Nghệ An thăm Hang Pác Bó, nơi lưu giữ chiếc phản Bác Hồ từng nghỉ ngơi và làm việc.
Đoàn văn nghệ sĩ Nghệ An thăm Hang Pác Bó, nơi lưu giữ chiếc phản Bác Hồ từng nghỉ ngơi và làm việc.

Nhà văn Phạm Thanh Thắng – Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cao Bằng với tôi không chỉ là một đồng nghiệp, mà còn là người quen thân từ những năm anh còn công tác tại Đài Phát thanh – Truyền hình Cao Bằng. Bởi thế, cuộc gặp gỡ diễn ra trong không khí gần gũi, chân thành như những người trong một mái nhà chung của nghề chữ.

Anh cho rằng, trong bản đồ tinh thần của đất nước, Nghệ An và Cao Bằng có một mối cơ duyên rất đặc biệt. Một miền là quê hương sinh thành, nơi nuôi dưỡng nhân cách và chí lớn; một miền là điểm tựa lịch sử, nơi những bước đi quyết định được hình thành, mở ra vận hội mới cho dân tộc. Hai miền đất ấy, ở hai đầu không gian địa lý, lại gặp nhau ở chiều sâu lịch sử và giá trị tinh thần.

Giở từng trang sách, nhà văn Phạm Thanh Thắng trầm lắng và nghiêm cẩn, như đang đứng trên giảng đường của ký ức. Cách đây 85 năm, ngày 28/1/1941, sau ba thập niên bền bỉ tìm con đường cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc qua mốc 108, đặt chân lên mảnh đất Pác Bó (Trường Hà, Cao Bằng). Từ nơi biên viễn ấy, phong trào cách mạng Việt Nam dần được tổ chức, dẫn dắt và bước sang một chặng phát triển mới.

Cũng tại Cao Bằng, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 được triệu tập và chủ trì vào tháng 5/1941 – một hội nghị có ý nghĩa bước ngoặt, xác lập đường hướng giải phóng dân tộc, hình thành mặt trận đoàn kết rộng rãi, xây dựng căn cứ địa và chuẩn bị những điều kiện căn bản cho mùa thu lịch sử năm 1945.

Từ dấu mốc ấy, Cao Bằng mang trên mình một tầm vóc đặc biệt: vùng căn cứ địa đầu tiên, nơi khởi nguồn của nhiều quyết sách quan trọng, đồng thời trở thành điểm tựa vững chắc nơi biên cương phía Bắc của Tổ quốc.

Chính từ chiều sâu lịch sử và mối gắn kết ấy, cuộc gặp gỡ giữa hai Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ An – Cao Bằng mang dáng dấp của một cuộc sum họp thân tình, đúng như tên gọi: “Giao lưu hai miền quê Bác” nơi ký ức, văn hóa và cảm xúc được nối dài bằng ngôn ngữ của văn chương và nghệ thuật.

PGS, TS Đinh Trí Dũng – Phó Chủ tịch Thường trực Hội Liên hiệp VHNT Nghệ An (áo trắng) tặng ấn phẩm cho nhà văn Phạm Thanh Thắng – Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cao Bằng.
PGS, TS Đinh Trí Dũng – Phó Chủ tịch Thường trực Hội Liên hiệp VHNT Nghệ An (áo trắng) tặng ấn phẩm cho nhà văn Phạm Thanh Thắng – Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cao Bằng.

Trong không khí lắng đọng và thiêng liêng của buổi giao lưu, PGS, TS Đinh Trí Dũng – Phó Chủ tịch Thường trực Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Nghệ An đã chia sẻ những suy ngẫm đầy xúc động. Nghệ An, Làng Sen luôn tự hào là nơi Người cất tiếng khóc chào đời, nơi khởi nguồn của một nhân cách lớn gắn liền với vận mệnh dân tộc.

Sau nhiều thập niên xa quê để thực hiện hoài bão lớn lao, Người đã hai lần trở về thăm quê hương: tháng 6 năm 1957 và tháng 12 năm 1961. Mỗi lần trở lại, hình ảnh để lại trong lòng đồng bào vẫn là một con người giản dị, gần gũi, chan hòa nghĩa tình, một nhân cách lớn nhưng luôn hiện hữu bằng những điều rất đỗi đời thường.

Chia sẻ từ góc nhìn của người làm văn học nghệ thuật, nhà văn Đinh Trí Dũng bộc bạch rằng, mỗi lần trở lại Cao Bằng, đoàn Nghệ An luôn mang cảm giác thân quen đặc biệt. Đó là sự gắn bó tự nhiên, là niềm xúc động và tự hào đan xen, như được trở về một miền quê ruột thịt; được gặp lại những đồng nghiệp thân thiết; được sống trong bầu không khí ấm áp của một gia đình chung, nơi không có khoảng cách, chỉ có sự đồng cảm và sẻ chia.

Cao Bằng hôm nay hiện lên với một diện mạo tươi mới và giàu sức gợi. Trung tâm tỉnh lỵ trải mình bên dòng Bằng Giang, dòng sông miên man chảy giữa núi non, góp phần tô điểm cho vẻ đẹp vừa khoáng đạt vừa mộng mơ của miền đất nơi địa đầu Đông Bắc Tổ quốc. Đây cũng là không gian hội tụ của nhiều cộng đồng dân tộc anh em như Kinh, Tày, Nùng, Hán…, tạo nên bản sắc văn hóa phong phú, bền bỉ và giàu chiều sâu.

Trung tâm tỉnh lỵ Cao Bằng ôm trọn dòng Bằng Giang, hiện lên rực rỡ và thanh bình.
Trung tâm tỉnh lỵ Cao Bằng ôm trọn dòng Bằng Giang, hiện lên rực rỡ và thanh bình.

Đến Cao Bằng, trước khi ghé thăm Hang Pác Bó, chúng tôi dừng chân dâng hương tại Đền thờ Bác Hồ trong quần thể Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó (xã Trường Hà). Không gian nơi đây lắng đọng, trang nghiêm, như một điểm tựa tinh thần để mỗi bước chân tiếp theo trở nên chậm rãi và thành kính hơn.

Men theo suối Lê Nin, dòng nước trong vắt soi bóng núi rừng, ẩn mình dưới dãy núi Các Mác, cảnh sắc hiện lên như một sự hòa quyện hiếm có giữa thiên nhiên và lịch sử. Màu nước xanh ngọc bích, tĩnh lặng như gương, chảy dưới chân dãy núi hùng vĩ tựa bức trường thành thiên nhiên, tạo nên một bức tranh sơn thủy vừa nên thơ, vừa linh thiêng, nguyên sơ và yên bình.

Ở thượng nguồn là Hang Pác Bó – nơi gắn liền với những ngày đầu hoạt động cách mạng của Người khi trở về Tổ quốc. Tại vùng đất này, từ ngày 10 đến 19/5/1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 đã được tổ chức, đưa ra những quyết định mang ý nghĩa bước ngoặt đối với phong trào cách mạng Việt Nam: xác lập đường hướng giải phóng dân tộc, xây dựng lực lượng, hình thành căn cứ địa và chuẩn bị những điều kiện căn bản cho thắng lợi trong tương lai.

Cũng tại đây, nhiều dấu mốc quan trọng đã được ghi lại: Báo Việt Nam độc lập ra đời tại lán Khuổi Nặm II; đến ngày 22/12/1944, tại rừng Trần Hưng Đạo, lực lượng vũ trang đầu tiên được thành lập với 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Trong thời gian này, nhiều tài liệu lý luận và vận động quần chúng quan trọng được biên soạn, góp phần lan tỏa tinh thần đoàn kết và ý chí tự cường trong toàn xã hội.

Ngày 04/5/1945, từ Pác Bó, Người cùng đoàn cán bộ rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang), tiếp tục chỉ đạo và tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho bước chuyển mang tính quyết định của lịch sử dân tộc.

Đến hôm nay, suối Lê Nin và núi Các Mác vẫn giữ được vẻ trầm mặc, u tịch và gần như nguyên vẹn của núi rừng. Cảnh quan nơi đây không chỉ là một không gian sinh thái đặc biệt, mà còn là ký ức sống động về một chặng đường lịch sử, nơi thiên nhiên lặng lẽ chứng kiến những khởi đầu bền bỉ và sâu sắc của vận mệnh đất nước.

Suối Lê Nin dưới chân núi Các Mác – vẻ đẹp sơn thủy gắn với dấu ấn lịch sử.
Suối Lê Nin dưới chân núi Các Mác – vẻ đẹp sơn thủy gắn với dấu ấn lịch sử.
Đầu nguồn suối Lê Nin trong xanh, lặng lẽ chảy trước cửa Hang Pác Bó.
Đầu nguồn suối Lê Nin trong xanh, lặng lẽ chảy trước cửa Hang Pác Bó.

Chúng tôi dừng lại khá lâu trước nơi ở và làm việc của Bác trong Hang Pác Bó. Không gian ấy khiến người ta tự nhiên chậm lại. Chỉ là một chiếc phản gỗ đơn sơ, kê sát vách đá lạnh, giữa lòng hang không rộng – chừng 80 mét vuông, với lối thang nhỏ chỉ vừa một người bước qua. Chính tại nơi khiêm nhường ấy, từ ngày 08/02/1941 đến trung tuần tháng 3/1941, Bác đã sống, làm việc và cùng các đồng chí bàn thảo những công việc hệ trọng của cách mạng.

Chiếc phản vẫn còn đó, giản dị đến mức gần như tan vào màu đá núi, nhưng lại gợi lên một cảm giác sâu xa về sự bền bỉ, tĩnh lặng và tập trung cao độ. Giữa núi rừng heo hút, những quyết sách lớn đã được hình thành từ một không gian vô cùng mộc mạc.

Rời Pác Bó, chúng tôi đến dâng hương tại mộ Anh hùng liệt sĩ Kim Đồng, người chiến sĩ thiếu niên mang tên thật Nông Văn Dền. Anh sinh năm 1929 và hy sinh ngày 15/2/1943, khi đang làm nhiệm vụ bảo đảm an toàn và giữ bí mật cho cán bộ cách mạng. Khi ấy, Kim Đồng mới 14 tuổi.

Khu di tích Kim Đồng được xây dựng ngay trên quê hương anh, gồm phần mộ và tượng đài đặt dưới chân núi đá cao vút, được những tán nghiến xanh che chở, tạo nên không gian vừa trang nghiêm vừa gần gũi. Đó không chỉ là nơi tưởng niệm, mà còn là điểm nhắc nhớ về một thế hệ thiếu niên sớm trưởng thành trong gian khó.

Người hướng dẫn kể lại rằng, ngày 15/5/1941, tại làng Nà Mạ, đồng chí Đức Thanh đã quyết định thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc, gồm bốn đội viên: Kim Đồng, Cao Sơn, Thanh Thủy và Thủy Tiên, trong đó Kim Đồng được tín nhiệm làm Đội trưởng.

Tháng 8/1942, Kim Đồng vinh dự được gặp Bác tại hang Nộc Én, trên núi sau làng Nà Mạ, và được giao nhiệm vụ giao liên, bảo vệ cách mạng. Cậu bé Đội trưởng năm ấy được Bác ghi nhận là mưu trí, nhanh nhẹn và dũng cảm, những phẩm chất đã theo Kim Đồng trọn vẹn đến phút cuối cùng của tuổi đời rất ngắn nhưng đầy ý nghĩa.

Đoàn dâng hương tại mộ Anh hùng Liệt sĩ Kim Đồng (Nông Văn Dền).
Đoàn dâng hương tại mộ Anh hùng Liệt sĩ Kim Đồng (Nông Văn Dền).

Đứng trên tầng sáu khách sạn Bằng Giang, bên dòng sông cùng tên, tôi bắt gặp những tia nắng hiếm hoi của miền núi hắt lên các dãy nhà nhiều góc cạnh, tạo nên một bức tranh vừa hiện đại vừa thơ mộng. Trong ánh ngược sáng, cây cầu bắc qua sông Bằng trở nên mờ ảo, như một nét chấm phá mềm mại giữa không gian đô thị.

Cao Bằng hiện lên ở khoảnh khắc ấy với vẻ đẹp dung hòa: một đô thị đang chuyển mình, nhưng vẫn giữ được nét nguyên sơ và trầm tĩnh của miền sơn cước.

Cây cầu bắc qua sông Bằng Giang mờ ảo trong khoảnh khắc ngược nắng.
Cây cầu bắc qua sông Bằng Giang mờ ảo trong khoảnh khắc ngược nắng.

Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng Nguyễn Việt Hùng trực tiếp dẫn đoàn men theo triền núi, chinh phục núi Mắt Thần để chiêm ngưỡng thung lũng xóm Bản Danh từ trên cao. Ngọn núi còn được người dân gọi là núi Thủng, bởi khoảng không đặc biệt khoét giữa thân núi cao vút, tạo nên một kỳ quan thiên nhiên hiếm gặp, vừa hùng vĩ vừa bí ẩn.

Trên con dốc đá gập ghềnh, nghệ sĩ nhiếp ảnh Hoàng Trang – phóng viên Tạp chí Non nước Cao Bằng thoăn thoắt di chuyển, không bỏ lỡ khoảnh khắc nào của cuộc gặp gỡ đặc biệt: những người quê Bác Nghệ An ra thăm quê Bác Cao Bằng.

Chị cười, nói vui rằng không thấy mệt, bởi được gặp “người quê chung” là đã đủ vui. Nhưng trong ánh mắt rạng rỡ ấy, tôi vẫn bắt gặp những giọt mồ hôi lặng lẽ đọng nơi gò má, một chi tiết rất nhỏ, nhưng đủ để giữ lại sự chân thật và ấm áp của chuyến đi.

Núi Mắt Thần (núi Thủng) với khoảng không tự nhiên giữa đỉnh núi, tạo nên cảnh quan kỳ vĩ hiếm có.
Núi Mắt Thần (núi Thủng) với khoảng không tự nhiên giữa đỉnh núi, tạo nên cảnh quan kỳ vĩ hiếm có.

Trong hành trình khám phá non nước Cao Bằng, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng Nguyễn Việt Hùng tiếp tục dẫn đoàn lên đỉnh Phia Oắc, nơi cao gần 2.000 mét so với mực nước biển, khí hậu quanh năm như chạm ngõ mùa đông.

Càng lên cao, không gian càng loãng dần. Những tảng mây sà thấp, cuộn trôi dưới tầm mắt, gợi cảm giác như đang đứng trước một biển mây hoang vu và tịch mịch. Âm thanh dường như cũng lắng lại, nhường chỗ cho sự tĩnh tại hiếm có của núi rừng.

Trên đỉnh Phia Oắc, Trạm Phát thanh Phia Oắc hiện ra lặng lẽ, mái ngói phủ rêu xanh, len vào từng kẽ nhỏ, một dấu vết thời gian rất khẽ, đủ để hoàn thiện bức tranh trầm mặc của miền cao sơn.

Nghệ An – Cao Bằng: Hai miền quê Bác, chung một cội nguồn - Ảnh 1
Nghệ An – Cao Bằng: Hai miền quê Bác, chung một cội nguồn - Ảnh 2

Cao Bằng còn là nơi hiện diện của Cửa khẩu quốc tế Trà Lĩnh – Long Bang, tiếp giáp huyện Long Châu, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc). Đây là một trong những cặp cửa khẩu Việt – Trung quan trọng ở khu vực biên giới phía Bắc, vừa mang ý nghĩa giao thương, vừa giữ vai trò kết nối không gian văn hóa – du lịch của hai vùng đất kề cận.

Nhắc đến Cao Bằng, Thác Bản Giốc là địa danh không thể bỏ qua. Thác nước nằm trên dòng sông Quây Sơn, uốn lượn giữa núi rừng trùng điệp, tạo nên một quần thể cảnh quan hùng vĩ và nên thơ hiếm có. Từ thượng nguồn chảy qua những dãy núi đá vôi sừng sững, dòng nước đổ xuống nhiều tầng, tung bọt trắng xóa, tạo nên âm vang mạnh mẽ giữa không gian khoáng đạt.

Bên kia dòng sông, những chiếc thuyền chở du khách thong thả trôi, phía trên là các cây cầu treo vắt mình theo sườn núi, góp thêm nét chấm phá sinh động cho bức tranh thiên nhiên. Ở bờ bên này, du khách trong nước cũng men theo những lối cầu nhỏ, vượt qua các lạch nước để đến gần hơn với dòng thác, lặng người trước vẻ đẹp vừa dữ dội vừa mộng mơ của Bản Giốc.

Phía xa, những cánh đồng lúa xanh mướt hiện lên trong làn hơi nước dày như sương, bốc lên từ chân thác, tạo nên khung cảnh mềm mại và yên bình. Giữa hơi nước mát lạnh ấy, không ai ngại ướt, bởi cảm giác được hòa mình vào thiên nhiên dường như lấn át tất cả.

Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Cao Bằng, mỗi năm có hàng chục nghìn lượt du khách từ phía Việt Nam và gần một triệu lượt du khách từ phía bên kia biên giới đến tham quan, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Thác Bản Giốc minh chứng sinh động cho sức hút bền bỉ của một danh thắng nơi địa đầu Tổ quốc.

Thác Bản Giốc – kỳ quan thiên nhiên hùng vĩ, thác nước tự nhiên lớn thứ tư thế giới và lớn nhất Đông Nam Á.
Thác Bản Giốc – kỳ quan thiên nhiên hùng vĩ, thác nước tự nhiên lớn thứ tư thế giới và lớn nhất Đông Nam Á.
Cánh đồng lúa xanh mướt ẩn hiện trong làn hơi nước dày như sương, tạo nên khung cảnh mờ ảo bên dòng Quây Sơn.
Cánh đồng lúa xanh mướt ẩn hiện trong làn hơi nước dày như sương, tạo nên khung cảnh mờ ảo bên dòng Quây Sơn.

Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng Phan Thăng An khẳng định, sự kiện Người trở về Tổ quốc không chỉ là niềm tự hào thiêng liêng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, mà còn là nguồn động lực tinh thần to lớn, điểm tựa vững chắc để Cao Bằng bền bỉ vươn lên trong quá trình xây dựng và phát triển.

Trải qua 85 năm, khắc ghi lời dạy và tấm gương đạo đức cách mạng của Người, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng luôn giữ vững tinh thần đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, từng bước khẳng định vị thế của một địa phương giàu truyền thống cách mạng.

Từ một tỉnh miền núi còn nhiều thách thức, Cao Bằng hôm nay đang chủ động khai thác tiềm năng, lợi thế, tập trung phát triển kinh tế – xã hội gắn với giữ vững quốc phòng – an ninh; đồng thời chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa – lịch sử cách mạng như một nền tảng bền vững cho phát triển lâu dài.

Trong hệ giá trị ấy, Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó được xác định là một “địa chỉ đỏ” tiêu biểu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, góp phần bồi đắp lý tưởng, niềm tin cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Lang Quốc Khánh (Văn phòng Bắc Trung Bộ)