Người trẻ và lựa chọn khác biệt: Gắn bó với cây chè giữa đại ngàn

Giữa vùng chè Gay Cao Sơn xanh ngát, Lê Thảo My hiện lên với sự dung dị mà đầy cuốn hút – một người trẻ mang trong mình tình yêu bền bỉ với đất và cây chè. Không chỉ gìn giữ những giá trị truyền thống, chị còn lặng lẽ thổi vào đó hơi thở mới, để mỗi búp chè không chỉ là sản vật, mà trở thành câu chuyện về đam mê, bản sắc và hành trình gìn giữ tinh hoa.

Thảo My giới thiệu các sản phẩm trà với PV (ảnh Quốc Khánh)
Thảo My giới thiệu các sản phẩm trà với PV (ảnh Quốc Khánh)

Ông Phan Sỹ Đạo dẫn tôi bước vào căn nhà nhỏ, nơi một góc phòng được sắp xếp giản dị với vài vật dụng thiết yếu: chiếc ghế dùng làm giường tạm, chiếc tủ nhỏ cất giữ các sản phẩm trà. Ông nói, đó là chỗ nghỉ của Lê Thảo My mỗi lần chị lên với vùng chè. Không phải khách trọ, cũng chẳng phải người ghé qua, chị chọn ở lại như một phần của nơi này – gần đất, gần người và gần từng đồi chè đang vào vụ.

Ngoài sân, xưởng sản xuất mở cửa. Bên trong, giữa không gian nóng hầm hập từ những lò sấy đang vận hành, một dáng người vẫn miệt mài làm việc. Nhiệt từ máy móc hòa với cái nắng mùa hè khiến không khí như đặc lại, vậy mà nhịp tay vẫn đều, không ngơi nghỉ. Trong bộ đồ bảo hộ kín mít, chỉ lộ ra đôi mắt ánh lên sự tập trung và một nụ cười ẩn sau lớp khẩu trang, chị quay lại chào khách bằng giọng nói ấm và rõ.

Giữa điều kiện còn nhiều thiếu thốn, sự hiện diện của người trẻ ấy không ồn ào, nhưng đủ để người đối diện cảm nhận được một lựa chọn bền bỉ. Không tìm kiếm sự tiện nghi, chị chọn gắn mình với từng công đoạn, từng mẻ trà, để hiểu sâu hơn giá trị của sản phẩm mình theo đuổi. Ở nơi tưởng chừng khắc nghiệt ấy, lại hiện lên một tinh thần nhẹ nhàng mà vững vàng như chính hương trà đang lặng lẽ lan tỏa.

Ông Phan Sỹ Đạo - Bí thư Chi bộ xóm Cao Sơn 1, xã Yên Xuân, tỉnh Nghệ An
Ông Phan Sỹ Đạo - Bí thư Chi bộ xóm Cao Sơn 1, xã Yên Xuân, tỉnh Nghệ An
Thảo My quần quật làm việc dưới cái nóng hơn 40 độ bên hai cái lò sấy đang quay và thời tiết ngoài trời cũng đang “đổ lửa”
Thảo My quần quật làm việc dưới cái nóng hơn 40 độ bên hai cái lò sấy đang quay và thời tiết ngoài trời cũng đang “đổ lửa”

Trở lại bàn thưởng trà, Lê Thảo My nhẹ nhàng rót từng chén nước trong chuyển động uyển chuyển, như một điệu nhịp quen thuộc đã thấm vào từng cử chỉ. Giữa không gian mộc mạc, chị chậm rãi lý giải điều khiến tôi băn khoăn: “Chè Gay” ở huyện Anh Sơn không mang nghĩa như cách hiểu thông thường, mà là một giống chè truyền thống lâu đời, gắn bó với đời sống người dân địa phương, đặc biệt ở vùng Cao Sơn cũ, nơi mỗi ấm nước hằng ngày đều phảng phất hương chè.

Đó là loại chè đặc sản, đến mức chỉ cần nhắc đến Anh Sơn, người ta nhớ ngay đến chè Gay. “Em đã đi nhiều vùng để khảo sát cây chè, nhưng hiếm nơi nào có được hương vị riêng như ở đây”, chị chia sẻ.

Tôi nhấp một ngụm nhỏ. Vị chát nhẹ lan nơi đầu lưỡi, không gắt, rồi lắng lại thành hậu ngọt sâu, kéo dài nơi cổ họng. Nhận từ tay chị một nhúm trà khô, tôi đưa lên mũi, hương thơm thanh thoát, tinh khiết, không cần bất kỳ sự ướp hương nào. Theo lời Thảo My, chính sự chọn lọc kỹ lưỡng chỉ hái phần đọt, từ một đến hai lá non đã tạo nên nét riêng cho loại trà này.

Giữa câu chuyện và hương trà, cảm giác như mỗi chén nước không chỉ để thưởng thức, mà còn là cách để hiểu thêm về một vùng đất, nơi những giá trị truyền thống vẫn được gìn giữ và nâng niu qua từng búp chè.

Người trẻ và lựa chọn khác biệt: Gắn bó với cây chè giữa đại ngàn - Ảnh 1

Ông Phan Sỹ Đạo chậm rãi tiếp lời, như bổ sung thêm một lớp ký ức cho câu chuyện về vùng chè: từ bao đời nay, người dân Cao Sơn đã xem “chè Gay” như thức uống hằng ngày, đặc biệt trong những ngày nắng nóng. Vị trà không chỉ giúp giải nhiệt mà còn gắn bó với nhịp sống lao động. Vào mùa hè, chè được thu mua, vận chuyển xuống các vùng miền xuôi, trở thành nguồn hàng quen thuộc. Với người dân nơi đây, cây chè không chỉ là cây trồng, mà còn là trụ cột kinh tế, giúp nhiều gia đình cải thiện đời sống.

Cái tên “chè Gay” cũng mang theo dấu ấn riêng. Theo lời ông, tên gọi bắt nguồn từ chợ Gay, nơi xưa kia người dân mang chè đến bán từ rất sớm. Từng bó chè theo chân những chuyến hàng tỏa đi khắp nơi, và cái tên ấy dần trở thành cách gọi quen thuộc, gắn với cả một vùng đất.

Ngồi bên bàn trà, Lê Thảo My chia sẻ về hành trình của mình với cây chè. Là người nhiều năm theo đuổi nghệ thuật pha trà, từng tham gia các sự kiện trong và ngoài tỉnh, chị nuôi dưỡng niềm đam mê đủ lớn để tìm đến tận vùng nguyên liệu. Trước khi quyết định gắn bó với Cao Sơn, chị đã đi qua nhiều vùng chè, mời chuyên gia thẩm định chất lượng, nhưng chỉ tại đây mới tìm được hương vị khiến mình thực sự dừng lại.

Theo chị, để có được một mẻ trà đạt chuẩn, từng công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ. Từ việc hái đúng búp non chỉ một đến hai lá, thường vào sáng sớm để giữ độ tươi đến khâu làm héo nhẹ, giúp lá mềm trước khi đưa vào lò. Nhiệt độ trong quá trình sao sấy phải được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế oxy hóa, giữ lại màu xanh và hương tự nhiên của lá chè. Sau đó, chè được vò thủ công để cánh xoăn lại, tinh chất tiết ra, tạo nên vị đậm khi pha. Công đoạn cuối cùng là sấy khô hoàn toàn để bảo quản lâu dài, cho ra thành phẩm với cánh trà xoăn, màu xanh đậm và hương thơm đặc trưng.

Trong từng lời kể, từng động tác, hiện lên không chỉ là quy trình làm trà, mà còn là sự nâng niu dành cho một sản vật địa phương, nơi giá trị truyền thống được giữ gìn bằng cả tâm huyết và sự kiên trì.

Lê Thảo My là nghệ nhân trà Việt. Nhiều năm làm nghề pha trà theo phong cách nghệ thuật ở nhiều sự kiện trong nước, trong tỉnh
Lê Thảo My là nghệ nhân trà Việt. Nhiều năm làm nghề pha trà theo phong cách nghệ thuật ở nhiều sự kiện trong nước, trong tỉnh

Theo chia sẻ của Lê Thảo My, chè Gay vùng Anh Sơn mang một nét riêng khó lẫn: vị thanh, mộc, ngọt sâu nhưng êm, không gây cảm giác khô cổ ngay từ ngụm đầu. Thưởng trà không chỉ là cảm nhận hương vị, mà còn là sự dễ chịu kéo dài, đủ để người uống quay lại nhiều lần. Chị Trần Thị Hằng, một người từng trải nghiệm, cũng nhận xét rằng loại trà này khá “lành”, có thể dùng vào nhiều thời điểm trong ngày mà vẫn giữ được cảm giác nhẹ nhàng.

Với Thảo My, hành trình đến Cao Sơn không chỉ là lựa chọn nghề nghiệp, mà là sự gắn bó xuất phát từ đam mê nghệ thuật trà. Có những thời điểm, chị rời phố nhiều tuần liền, đến từng hộ dân để chia sẻ cách trồng chè theo hướng tự nhiên, hạn chế tối đa tác động từ phân bón hay các yếu tố hóa học. Mục tiêu của chị không dừng ở sản xuất, mà là gìn giữ giá trị và danh tiếng của chè Gay nơi đây. Đổi lại, con đường ấy không ít thử thách: có những mẻ chè phải bỏ đi dù tốn kém, chỉ vì chất lượng chưa đạt như mong muốn.

Hành trình đến vùng chè cũng mang theo những câu chuyện riêng. Từ tuyến đường mòn Hồ Chí Minh rẽ vào, qua một cây cầu nhỏ mang tên “cầu Bí”, cái tên nghe giản dị nhưng lại gợi nhiều liên tưởng. Người địa phương kể rằng trước kia, con suối dưới chân cầu thường bị nước dâng sau mưa, bốn bề núi bao quanh khiến việc đi lại gặp nhiều trở ngại, nên được gọi là suối Bí. Khi cây cầu được xây dựng, cái tên ấy vẫn được giữ lại như một phần ký ức.

Giữa những địa danh mộc mạc và câu chuyện đời thường ấy, chè Gay không chỉ là một sản vật, mà còn là sợi dây kết nối con người với vùng đất, nơi mỗi chén trà đều mang theo hương vị của ký ức, sự kiên trì và niềm tin vào những giá trị bền bỉ.

Cầu Bí trên Đường Mòn Hồ Chí Minh ở vùng chè Gay
Cầu Bí trên Đường Mòn Hồ Chí Minh ở vùng chè Gay

Làng chè xóm Cao Sơn 3 bừng lên trong nắng sớm. Ánh nắng miền núi như thấm vào từng nhịp thở, phủ lên không gian một vẻ vừa khắc nghiệt, vừa giàu sức sống. Giữa khoảng đất rộng, ngôi nhà của chị Đặng Thị Hảo nép mình bên vườn chè xanh mướt, lối vào điểm những bụi sim đang mùa nở hoa. Kề đó là vườn mía trải dài đến tận chân núi, tạo nên một bức tranh lao động dung dị mà tràn đầy sinh khí.

Cuộc sống của gia đình chị Hảo gắn chặt với đồi núi quê nhà. Từ vườn chè hơn hai héc ta do chính tay chị khai khẩn, cùng nguồn thu từ nước mía, chị chắt chiu nuôi ba con ăn học khi chồng đi làm xa, thi thoảng mới trở về. Đồng hành cùng chị là Lê Thảo My – người không chỉ hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc mà còn bao tiêu sản phẩm, từng bước giúp vườn chè trở thành mô hình mẫu để đón khách đến trải nghiệm.

Theo chị Hảo, khu vườn được chăm sóc hoàn toàn theo hướng tự nhiên: dùng phân chuồng hoai mục, lá cây ủ mục để cải tạo đất, tưới nước giếng khoan nhằm giữ cân bằng hệ sinh thái. Cách làm ấy khiến cây chè phát triển chậm hơn, nhưng đổi lại là chất lượng ổn định, an toàn và giữ được hương vị riêng. Chè được hái hoàn toàn bằng tay, sản lượng không nhiều, nhưng bù lại là giá trị cao hơn, bởi từng búp chè đều được chọn lựa kỹ lưỡng.

Giữa công việc thường ngày, sự gắn bó giữa người trồng chè và người làm trà cũng dần trở nên thân thiết. Những lần ghé vườn, Lê Thảo My không chỉ kiểm tra cây chè, mà còn ở lại trong những bữa cơm giản dị, nơi câu chuyện về đất, về chè và về cuộc sống cứ thế nối dài. Ở đó, không còn khoảng cách giữa người làm nghề và người giữ đất, chỉ còn sự đồng hành bền bỉ như chính màu xanh đang lan rộng trên những triền đồi Cao Sơn.

Chị Đặng Thị Hảo chủ vườn chè mẫu ở xã Yên Xuân
Chị Đặng Thị Hảo chủ vườn chè mẫu ở xã Yên Xuân

Từ hiệu quả thực tế tại vườn chè của chị Đặng Thị Hảo, mô hình canh tác theo hướng tự nhiên do Lê Thảo My hướng dẫn đã dần lan tỏa trong cộng đồng. Ngày càng nhiều hộ dân ở Cao Sơn tham gia trồng chè nguyên liệu, tập trung vào việc hái đọt non để cung cấp cho xưởng chế biến, tạo nên sự liên kết bền chặt giữa người trồng và người làm trà.

Không chỉ mang lại nguồn thu ổn định, cách làm này còn góp phần định hình chất lượng đồng đều cho sản phẩm, từng bước xây dựng và khẳng định hương vị riêng của trà Gay vùng Yên Xuân. Từ những đồi chè xanh, một hướng đi bền vững đang được hình thành, nơi giá trị kinh tế gắn liền với việc gìn giữ bản sắc và nâng cao chất lượng nông sản địa phương.

Đến vườn mẫu, du khách được trải nghiệm hái chè
Đến vườn mẫu, du khách được trải nghiệm hái chè
Lê Thảo My gắn bó với chè bằng niềm đam mê và cống hiến
Lê Thảo My gắn bó với chè bằng niềm đam mê và cống hiến

“Nghệ nhân trà Việt Nam” Lê Thảo My xem hành trình làm trà của mình như một cách sống lặng lẽ mà bền bỉ, gắn sâu với thiên nhiên và văn hóa truyền thống. Với chị, trà không chỉ là sản phẩm, mà là sự kết nối giữa con người với đất trời, là niềm say mê đủ lớn để vượt qua những lo toan thường nhật. Những buổi sớm thức dậy giữa mây núi và làn sương mỏng trên đồi chè mang lại cho chị cảm giác an yên, tiếp thêm năng lượng để tiếp tục công việc vốn đòi hỏi nhiều công sức và sự kiên trì.

Chị trân trọng từng công đoạn, từ chăm sóc, thu hái đến canh lửa bên lò sấy, coi đó như một phần không thể tách rời của hành trình gìn giữ giá trị trà Việt. Bà Đặng Thị Hải, người gắn bó gần gũi chia sẻ sự cảm phục trước tinh thần trách nhiệm và sự tận tâm của cô gái trẻ, người chọn gắn bó với nghề không chỉ vì bản thân mà còn vì cộng đồng và những giá trị lâu dài.

Không dừng lại ở sản xuất, Lê Thảo My còn đưa trà vào không gian nghệ thuật qua những màn “múa trà”, biến việc thưởng trà thành một trải nghiệm tinh tế, giàu cảm xúc. Từ đó, chị nuôi dưỡng mong muốn góp phần nâng tầm trà Việt, lan tỏa nét đẹp văn hóa truyền thống đến với nhiều người hơn, cả trong và ngoài nước theo một cách nhẹ nhàng nhưng bền bỉ.

Lãnh đạo các phòng ban của xã thường xuyên đến động viên
Lãnh đạo các phòng ban của xã thường xuyên đến động viên
Ông Hoàng Đình Mỹ, Chủ tịch UBND xã Yên Xuân, tỉnh Nghệ An cùng trải nghiệm sấy trà trong xưởng nhỏ của Thảo My
Ông Hoàng Đình Mỹ, Chủ tịch UBND xã Yên Xuân, tỉnh Nghệ An cùng trải nghiệm sấy trà trong xưởng nhỏ của Thảo My

Sự bền bỉ của Lê Thảo My không chỉ lan tỏa trong cộng đồng mà còn nhận được sự quan tâm từ chính quyền địa phương. Trong một buổi sinh hoạt cùng bà con Cao Sơn, ông Hoàng Đình Mỹ đã trực tiếp đến thăm, trải nghiệm quy trình sấy trà tại xưởng nhỏ và lắng nghe câu chuyện phát triển của vùng chè.

Tại đây, ông nhấn mạnh định hướng đồng hành cùng người dân và nghệ nhân để đưa chè Gay phát triển bền vững. Theo đó, địa phương sẽ tăng cường hỗ trợ trên nhiều phương diện, từ quảng bá sản phẩm, hoàn thiện thủ tục đăng ký nhãn hiệu đến tạo điều kiện tham gia các hội chợ, xúc tiến thương mại. Mục tiêu không chỉ giúp chè Gay có chỗ đứng vững chắc trong nước mà còn từng bước hướng tới thị trường quốc tế.

Bên cạnh phát triển sản phẩm, chính quyền cũng chú trọng gắn chè với du lịch trải nghiệm nơi du khách có thể trực tiếp tham gia hái chè, chế biến và thưởng trà ngay tại vùng nguyên liệu. Cách làm này không chỉ gia tăng giá trị kinh tế mà còn góp phần lan tỏa bản sắc văn hóa địa phương.

Song song đó, các giải pháp kết nối thị trường và chuyển đổi số cũng được đặt ra, hướng đến việc đưa sản phẩm lên các nền tảng thương mại điện tử, mở rộng kênh tiêu thụ. Những định hướng này kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực cho người làm trà, từng bước xây dựng thương hiệu chè Gay trở thành một dấu ấn riêng của vùng đất Yên Xuân.

Người trẻ và lựa chọn khác biệt: Gắn bó với cây chè giữa đại ngàn - Ảnh 2
Ông Hoàng Đình Mỹ, Chủ tịch UBND xã Yên Xuân, tỉnh Nghệ An rất tâm huyết với mô hình bảo tồn chè Gay tại địa phương
Ông Hoàng Đình Mỹ, Chủ tịch UBND xã Yên Xuân, tỉnh Nghệ An rất tâm huyết với mô hình bảo tồn chè Gay tại địa phương
Cô gái trẻ Thảo My đầy nghị lực và bản lĩnh bảo tồn, lan tỏa thương hiệu chè Gay Cao Sơn
Cô gái trẻ Thảo My đầy nghị lực và bản lĩnh bảo tồn, lan tỏa thương hiệu chè Gay Cao Sơn

Chia tay xóm trà Gay, Lê Thảo My chia sẻ về những bước đi đầu tiên trong hành trình định hình sản phẩm. Từ vùng nguyên liệu Cao Sơn, chị đã phát triển các dòng trà như lục trà, hồng trà, bạch trà, nụ hoa trà xanh và trà túi lọc, mỗi loại mang một sắc thái riêng nhưng đều giữ được tinh thần mộc mạc của chè bản địa.

Hiện tại, chị đang tập trung hoàn thiện thiết kế bao bì, lồng ghép những dấu ấn đặc trưng của vùng núi Cao Sơn để sản phẩm không chỉ là trà, mà còn là một món quà mang câu chuyện địa phương. Hướng đi trước mắt là đưa sản phẩm đến gần hơn với du khách thông qua hình thức quà tặng, trải nghiệm và giới thiệu, từ đó lan tỏa hương vị và giá trị của chè Cao Sơn, Nghệ An theo cách nhẹ nhàng nhưng bền bỉ.

Quốc Khánh, Nguyệt Hằng (VP Bắc Trung Bộ)