Văn hóa Việt Nam được bồi đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tạo nên những giá trị đặc sắc về lòng nhân ái, tinh thần cộng đồng, ý chí vươn lên, sự cần cù, sáng tạo và khả năng thích ứng. Trong mỗi giai đoạn phát triển, những giá trị ấy lại được trao truyền, làm mới và lan tỏa theo những cách thức khác nhau.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt văn hóa, con người vào vị trí ngày càng rõ nét trong chiến lược phát triển đất nước, xác định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững. Quan điểm này cho thấy yêu cầu chuyển từ tư duy “phát triển văn hóa” sang tư duy rộng hơn: phát triển bằng văn hóa.
Điều đó có nghĩa, giá trị của văn hóa không chỉ được đo bằng số lượng chương trình, sự kiện hay doanh thu từ các hoạt động văn hóa. Quan trọng hơn, văn hóa phải hiện diện trong cách con người ứng xử với nhau, trong chất lượng không gian sống, trong cách doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, trong cách một địa phương kể câu chuyện về mình và trong cách Việt Nam tạo dựng hình ảnh với bạn bè quốc tế.
Một hành động nhỏ như giữ gìn môi trường, xếp hàng nơi công cộng, ứng xử văn minh, giúp đỡ người gặp khó khăn hay trân trọng những giá trị truyền thống đều góp phần tạo nên diện mạo văn hóa của một cộng đồng. Khi những điều tốt đẹp trở thành thói quen, văn hóa sẽ không còn là khái niệm xa xôi mà trở thành một phần tự nhiên của đời sống.
Những năm gần đây, không gian văn hóa Việt Nam ngày càng phong phú với các hoạt động nghệ thuật, thể thao, du lịch, lễ hội, triển lãm, điện ảnh, sân khấu và nhiều hình thức sáng tạo mới. Từ những chương trình nghệ thuật quy mô lớn tại các đô thị đến các lễ hội truyền thống ở vùng miền, từ sân khấu hiện đại đến những không gian văn hóa cộng đồng, từ các di sản vật thể đến di sản phi vật thể, một Việt Nam giàu bản sắc đang được kể lại bằng nhiều ngôn ngữ sáng tạo.
Những giá trị tưởng như quen thuộc cũng có thể trở thành những “đại sứ” đặc biệt. Một bát phở Hà Nội, chiếc bánh mì, ly cà phê vùng cao, những loại trái cây miền sông nước, làn điệu dân ca, nhạc cụ truyền thống hay một sản phẩm thủ công làng nghề đều có thể trở thành điểm chạm văn hóa với du khách. Ở đó, du lịch không đơn thuần là hành trình di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Đó còn là hành trình khám phá câu chuyện của đất, của người và của những giá trị đã được vun bồi qua nhiều thế hệ.
Từ đô thị đến miền núi, từ những vùng di sản đến không gian biển đảo, mỗi địa phương đều có thể tạo nên một câu chuyện riêng nếu biết nhận diện đúng giá trị, tổ chức tốt sản phẩm và kể câu chuyện ấy bằng ngôn ngữ phù hợp với công chúng hôm nay.
Hội nhập càng sâu rộng, nhu cầu nhận diện bản sắc càng trở nên rõ nét. Việt Nam có thể tiếp nhận những thành tựu mới của thế giới, ứng dụng công nghệ hiện đại, mở rộng giao lưu nghệ thuật và phát triển những mô hình giải trí mới; nhưng trong quá trình đó, những giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc vẫn cần được gìn giữ và làm mới.
Bản sắc không có nghĩa là khép mình. Ngược lại, một nền văn hóa có sức sống là nền văn hóa biết tiếp nhận tinh hoa bên ngoài, đồng thời đủ tự tin để giới thiệu những giá trị riêng của mình.
Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại đang tạo ra nhiều không gian sáng tạo mới. Nghệ thuật truyền thống có thể bước lên sân khấu hiện đại; di sản có thể được số hóa; chất liệu dân gian có thể trở thành nguồn cảm hứng cho thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, thời trang và du lịch. Đó chính là quá trình biến những giá trị đã được tích lũy trong lịch sử thành những sản phẩm có sức sống trong đời sống đương đại.
Một trong những yêu cầu đáng chú ý của Nghị quyết số 80-NQ/TW là đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển, trong đó có việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và nâng cao khả năng tạo ra giá trị từ những sản phẩm văn hóa.
Từ góc nhìn này, “sức mạnh mềm” không chỉ nằm ở khả năng tạo thiện cảm hay sức hấp dẫn đối với bên ngoài. Sức mạnh ấy còn được hình thành từ chất lượng đời sống, niềm tự hào về quê hương, tinh thần sáng tạo, sự tử tế trong cộng đồng và khả năng biến các giá trị văn hóa thành những sản phẩm, dịch vụ có giá trị.
Một lễ hội được tổ chức chuyên nghiệp có thể tạo thêm sức hút du lịch. Một bộ phim hay có thể đưa hình ảnh đất nước đến với khán giả quốc tế. Một sản phẩm thủ công được thiết kế phù hợp với thị trường có thể mở rộng sinh kế cho làng nghề. Một chương trình nghệ thuật chất lượng có thể tạo thêm việc làm cho đội ngũ sáng tạo.
Như vậy, giá trị kinh tế của văn hóa có thể được nhìn thấy qua doanh thu, việc làm, du lịch, dịch vụ và đóng góp cho thị trường; nhưng giá trị sâu xa hơn chính là khả năng làm giàu đời sống tinh thần, nuôi dưỡng niềm tin, sự gắn kết và khát vọng sáng tạo của con người.
Bởi vậy, “lượng hóa” đóng góp của văn hóa không nên chỉ dừng ở những con số tài chính. Cần nhìn rộng hơn vào tác động của văn hóa đối với chất lượng cuộc sống, hình ảnh địa phương, sức hấp dẫn du lịch, thương hiệu quốc gia và năng lực sáng tạo của xã hội.
Trong hành trình ấy, báo chí có một vị trí đặc biệt. Báo chí không chỉ phản ánh các hoạt động văn hóa mà còn góp phần phát hiện, giới thiệu và lan tỏa những giá trị tích cực trong đời sống. Một câu chuyện đẹp về người lao động, một việc làm tử tế, một nghệ nhân gìn giữ nghề truyền thống hay một mô hình văn hóa cộng đồng hiệu quả đều có thể trở thành những câu chuyện truyền cảm hứng.
Cùng với đó, báo chí có thể góp phần ghi nhận những kết quả cụ thể, phân tích tác động của các sản phẩm văn hóa, phản ánh nhu cầu của công chúng và cung cấp thêm góc nhìn để các hoạt động văn hóa ngày càng thiết thực, gần gũi với đời sống.
Sự đồng hành ấy cũng cần tinh thần trách nhiệm và sự thẳng thắn. Những hạn chế trong tổ chức hoạt động văn hóa, những bất cập trong khai thác di sản hay những sản phẩm chưa phù hợp với nhu cầu xã hội cần được phản ánh trên tinh thần xây dựng, từ đó góp phần tìm kiếm giải pháp và hoàn thiện cách làm. Khi báo chí làm tốt vai trò phát hiện, phản ánh, kết nối và lan tỏa, mỗi câu chuyện văn hóa đẹp sẽ có thêm cơ hội đến với đông đảo công chúng.
Văn hóa cuối cùng vẫn bắt đầu từ con người và trở lại phục vụ con người. Một đất nước có những công trình văn hóa hiện đại là đáng quý. Một nền công nghiệp văn hóa phát triển là cần thiết. Những lễ hội, chương trình nghệ thuật, sản phẩm du lịch chất lượng cao cũng tạo thêm sức hút cho mỗi địa phương. Nhưng nền tảng bền vững nhất vẫn là những con người biết trân trọng giá trị tốt đẹp, biết sống có trách nhiệm với cộng đồng, biết giữ gìn môi trường, biết yêu quê hương và sẵn sàng chia sẻ với người khác.
Từ một hành động nhỏ có thể hình thành một thói quen đẹp. Từ nhiều thói quen đẹp có thể tạo nên một môi trường văn hóa lành mạnh. Từ một cộng đồng văn minh có thể hình thành sức hấp dẫn của một địa phương. Và từ những giá trị được vun bồi ở từng cộng đồng, hình ảnh Việt Nam sẽ ngày càng rõ nét trong mắt bạn bè quốc tế. Đó cũng là cách “sức mạnh mềm” được hình thành: không ồn ào, không xa cách đời sống, mà bắt đầu từ những giá trị rất gần gũi.
Phát huy sức mạnh văn hóa vì thế không chỉ là giữ lại những gì thuộc về quá khứ, mà còn là tạo điều kiện để những giá trị ấy tiếp tục sống, sáng tạo và tạo ra giá trị mới trong hiện tại. Khi văn hóa trở thành một phần của động lực phát triển, mỗi sản phẩm văn hóa, mỗi không gian sáng tạo và mỗi hành động đẹp đều có thể góp thêm một sắc màu vào bức tranh Việt Nam năng động, giàu bản sắc và tự tin hội nhập.
VĂN HÙNG