Tiếng Việt từ cội nguồn dân tộc

Mỗi năm vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch, hàng triệu người Việt Nam cùng hướng về đất Tổ với lòng thành kính, tưởng nhớ công lao các Vua Hùng và bậc tiền nhân đã gây dựng non sông. Đây không chỉ là dịp tri ân nguồn cội mà còn là thời khắc để nhìn lại những giá trị đã bồi đắp nên bản sắc và sức sống bền vững của dân tộc, trong đó tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Nhiều công trình nghiên cứu ngôn ngữ học trong và ngoài nước đều cho thấy tiếng Việt là một ngôn ngữ có lịch sử lâu đời, được hình thành trên chính không gian cư trú của cư dân bản địa ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay.
Nhiều công trình nghiên cứu ngôn ngữ học trong và ngoài nước đều cho thấy tiếng Việt là một ngôn ngữ có lịch sử lâu đời, được hình thành trên chính không gian cư trú của cư dân bản địa ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay.

Tiếng Việt trước hết là phương tiện giao tiếp của cộng đồng người Việt. Tuy nhiên, vượt lên ý nghĩa thông thường ấy, tiếng Việt còn lưu giữ ký ức lịch sử, truyền thống văn hóa, nếp nghĩ và tình cảm của dân tộc qua nhiều thế hệ. Từ lời ru của mẹ, câu ca dao nơi thôn xóm, tiếng trống trường ngày khai giảng… đến những trang văn học lớn của đất nước, tiếng Việt luôn hiện diện như sợi dây nối quá khứ với hiện tại, nối cội nguồn với tương lai.

Nhiều công trình nghiên cứu ngôn ngữ học trong và ngoài nước đều cho thấy tiếng Việt là một ngôn ngữ có lịch sử lâu đời, được hình thành trên chính không gian cư trú của cư dân bản địa ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay. Những nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Pháp André-Georges Haudricourt, tiêu biểu là công trình De l’origine des tons en vietnamien (1954) đã mở thêm cơ sở khoa học để nhìn nhận tiếng Việt như một ngôn ngữ có lịch sử lâu đời và phát triển độc lập ở khu vực Đông Nam Á.

Tiếng Việt không xuất hiện trong một thời điểm riêng lẻ, cũng không phải sản phẩm vay mượn từ bất kỳ ngôn ngữ nào khác. Đó là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài gắn với đời sống cộng đồng cư dân trên đất Việt.

Từ buổi đầu hình thành, các thế hệ người Việt cổ quần tụ bên những dòng sông lớn, khai phá đồng bằng, trị thủy, trồng lúa nước, dựng làng lập xóm, họ cần tiếng nói chung để lao động, trao đổi và tổ chức đời sống. Trong chính quá trình ấy, ngôn ngữ dân tộc từng bước được bồi đắp, hoàn thiện và truyền nối qua các thế hệ. Vì vậy, sự hình thành tiếng Việt gắn chặt với quá trình hình thành cộng đồng dân tộc Việt Nam. Lịch sử phát triển của dân tộc cũng là lịch sử phát triển của tiếng nói dân tộc. Cộng đồng càng bền chặt, tiếng nói chung càng được củng cố. Đất nước càng trưởng thành, tiếng Việt càng phong phú, bồi đắp, bổ sung và giàu sức biểu đạt.

Vấn đề gìn giữ tiếng mẹ đẻ cho thế hệ trẻ kiều bào luôn nhận được nhiều sự quan tâm từ các cơ quan, hội đoàn và cộng đồng người Việt ở nước ngoài (ảnh: nhandan.vn).
Vấn đề gìn giữ tiếng mẹ đẻ cho thế hệ trẻ kiều bào luôn nhận được nhiều sự quan tâm từ các cơ quan, hội đoàn và cộng đồng người Việt ở nước ngoài (ảnh: nhandan.vn).

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương nhắc nhớ mỗi người về buổi đầu dựng nước. Truyền thống dân tộc từ bao đời nay luôn coi thời đại Hùng Vương là biểu tượng của cội nguồn quốc gia. Đại Việt sử ký toàn thư khi biên soạn quốc sử đã đặt thời Hồng Bàng ở phần mở đầu, điều này thể hiện ý thức coi trọng nguồn gốc lâu đời của quốc gia, dân tộc.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được gìn giữ bền bỉ trong đời sống nhân dân và đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều đó cho thấy đạo lý nhớ nguồn luôn là mạch ngầm bền vững trong tâm thức người Việt.

Ý nghĩa sâu xa của ngày Giỗ Tổ không chỉ nằm ở nghi lễ tưởng niệm; điều quan trọng hơn là giữ gìn, vun đắp tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, là ý thức cộng đồng, là sự khẳng định mạch nối lịch sử không đứt đoạn của dân tộc. Trong dòng chảy ấy, tiếng Việt là một dấu ấn căn cốt.

Lịch sử đất nước từng trải qua nhiều biến động, nhiều thời kỳ giao lưu và tiếp xúc văn hóa sâu rộng. Trong quá trình đó, tiếng Việt tiếp nhận thêm những yếu tố mới để mở rộng vốn từ và khả năng biểu đạt. Đây là quy luật phát triển tự nhiên của mọi ngôn ngữ sống. Điều đáng chú ý là tiếng Việt vẫn giữ được cấu trúc riêng, sức sống riêng và vai trò trung tâm trong đời sống cộng đồng.

Chính sức sống bền bỉ ấy giúp tiếng Việt vượt qua thử thách của thời gian, của chiến tranh, thiên tai…. để trở thành ngôn ngữ chung của quốc gia thống nhất, là công cụ gắn kết cộng đồng và phát triển văn hóa dân tộc, góp phần tạo nên sức sống Việt mạnh mẽ, vững bền.

Kho tàng văn học dân gian Việt Nam là minh chứng sinh động cho chiều sâu của tiếng Việt. Tục ngữ ngắn gọn, hàm súc, đúc kết kinh nghiệm lao động và ứng xử. Ca dao giàu nhạc điệu, chứa đựng tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, nghĩa đồng bào. Truyện cổ tích gửi gắm ước mơ công bằng, lòng nhân hậu và niềm tin vào điều thiện. Qua những di sản ấy có thể thấy tiếng Việt giàu hình ảnh, giàu sắc thái và giàu khả năng biểu cảm.

Tiếng Việt từ cội nguồn dân tộc - Ảnh 1

Nói đến sức sống của tiếng Việt, nhiều người vẫn nhắc lại câu nói nổi tiếng được gắn với học giả Phạm Quỳnh khi bàn về Truyện Kiều: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”. Dù cách diễn đạt và bối cảnh dẫn lại qua thời gian có thể khác nhau, tinh thần của câu nói ấy vẫn gợi nhắc mối quan hệ sâu sắc giữa ngôn ngữ và vận mệnh văn hóa dân tộc.

Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng là minh chứng thuyết phục cho năng lực biểu đạt lớn lao của tiếng Việt. Chỉ bằng ngôn ngữ dân tộc, tác phẩm đã diễn tả được thân phận con người, nỗi đau thời thế, lòng hiếu nghĩa và khát vọng công lý. Từ đó có thể thấy tiếng Việt đủ sức chuyên chở những giá trị tư tưởng và nghệ thuật lớn.

Khi đất nước bước vào thời kỳ hiện đại, tiếng Việt tiếp tục chứng minh khả năng thích ứng mạnh mẽ. Từ báo chí, giáo dục, khoa học, hành chính đến đời sống số hôm nay, tiếng Việt không ngừng phát triển, bổ sung lớp từ mới, cách diễn đạt mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại, đồng thời vẫn giữ bản sắc riêng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều bài viết và bài nói chuyện luôn đề cao cách diễn đạt ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, gần gũi với nhân dân. Phong cách sử dụng tiếng Việt của Người đến nay vẫn là bài học có giá trị trong báo chí, giáo dục và hoạt động công vụ.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tiếng Việt đứng trước cả cơ hội và thách thức. Cơ hội là phạm vi sử dụng ngày càng mở rộng, khả năng tiếp cận tri thức thế giới ngày càng lớn. Thách thức là nguy cơ lai căng, cẩu thả trong sử dụng ngôn ngữ hoặc xem nhẹ tiếng mẹ đẻ trước những trào lưu mới.

Vì thế, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không có nghĩa khép kín hay bảo thủ; điều cần thiết nhất là tiếp thu tinh hoa của thế giới trên nền tảng tôn trọng bản sắc dân tộc, vừa bồi dưỡng, bổ sung phong phú hơn. Công việc ấy bắt đầu từ những điều gần gũi, trước hết là nói đúng, viết đúng, dùng từ chuẩn mực, ứng xử có văn hóa trong giao tiếp và truyền cho thế hệ trẻ tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ.

Nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, mỗi người Việt hướng về cội nguồn không chỉ bằng nén hương thành kính mà còn bằng sự trân trọng những giá trị tổ tiên để lại. Trong đó có tiếng Việt, gia tài tinh thần đã đi cùng dân tộc qua bao thăng trầm lịch sử. Tin rằng, chừng nào tiếng Việt còn được gìn giữ, yêu quý và phát triển, chừng đó mạch nguồn dân tộc vẫn tiếp tục chảy mãi.