Vùng núi cao phía Bắc và di sản trà Shan Tuyết cổ thụ
Nằm trên độ cao từ 1.000 đến 2.000 m so với mực nước biển, vùng núi phía Bắc được xem là thủ phủ của những cây chè Shan Tuyết cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm. Thống kê về quy mô canh tác cho thấy Tuyên Quang dẫn đầu khu vực này với hơn 28.000 ha, tiếp theo là Lào Cai sở hữu khoảng 16.000 ha, Lai Châu đang có khoảng gần 9.000 ha và Sơn La với hơn 5.900 ha chè. Những địa phương có diện tích khiêm tốn hơn gồm Điện Biên với hơn 600 ha, Lạng Sơn có hơn 500 ha và Cao Bằng ghi nhận khoảng hơn 20 ha. Khí hậu quanh năm lạnh giá, sương mù bao phủ kết hợp với thổ nhưỡng núi đá tơi xốp đã tạo điều kiện cho lá chè sinh trưởng chậm, tích tụ lượng vi chất dồi dào và hình thành lớp lông tuyết trắng phủ đều trên búp non.
Nguồn nguyên liệu Shan Tuyết đặc thụ này chính là nền tảng để các cơ sở sản xuất chế biến ra những dòng sản phẩm cao cấp như Bạch trà, Hồng trà, Lục trà và cả các bánh trà Phổ Nhĩ lên men. Đặc trưng nổi bật của dòng trà vùng cao là hương vị đậm đà, vị chát thanh, hậu ngọt kéo dài và đượm khoáng chất tự nhiên. Việc khai thác hợp lý nguồn tài nguyên di sản này không chỉ giúp nâng cao giá trị kinh tế cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại Suối Giàng hay Tam Đường, mà còn tạo ra dòng sản phẩm độc bản đủ sức cạnh tranh tại các cuộc thi trà uy tín trên thế giới.
Trung du Bắc Bộ và vị thế cái nôi trà xanh truyền thống
Sở hữu địa hình đồi bát úp đặc trưng kết hợp với điều kiện thời tiết ôn hòa, vùng Trung du Bắc Bộ từ lâu đã đóng vai trò là cái nôi của mảng trà xanh truyền thống Việt Nam. Trong đó, Thái Nguyên giữ vị trí trung tâm với hơn 24.000 ha, được mệnh danh là thủ phủ trà xanh cả nước nhờ các vùng nguyên liệu nổi tiếng như Tân Cương hay La Bằng. Phú Thọ xếp thứ hai về quy mô với hơn 16.000 ha, nhưng lại chuyển hướng mạnh sang phát triển dòng chè đen nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Các địa phương còn lại trong vùng gồm Hà Nội với 2.200 ha, Quảng Ninh có hơn 1.000 ha và Bắc Ninh sở hữu hơn 460 ha.
Sự khác biệt của vùng trà trung du nằm ở các giống chè bản địa cho ra chất lượng nước xanh vàng, tỏa hương cốm tự nhiên và có vị hậu ngọt sâu. Sự kết hợp giữa kinh nghiệm canh tác lâu đời của người dân cùng việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn như VietGAP hay hữu cơ đã giúp sản phẩm trà xanh Thái Nguyên giữ vững thị phần nội địa. Trong khi đó, mô hình sản xuất chè đen quy mô lớn tại Phú Thọ lại đóng vai trò là nguồn cung quan trọng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản.
Bắc Trung Bộ tập trung cho quy mô chè nguyên liệu xuất khẩu
Khu vực Bắc Trung Bộ với địa hình đồi núi thấp cùng đặc trưng khí hậu chịu ảnh hưởng của gió mùa đao găm khắc nghiệt lại lựa chọn chiến lược phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp. Nghệ An là địa phương có diện tích trồng chè lớn nhất vùng với hơn 8.300 ha, tập trung chủ yếu tại các huyện miền núi như Thanh Chương. Hà Tĩnh đứng thứ hai với hơn 1.200 ha và Thanh Hóa ghi nhận hơn 210 ha.
Do điều kiện tự nhiên chịu nhiều nắng nóng, các địa phương tại đây tập trung quy hoạch các vùng trồng năng suất cao, sử dụng các giống chè lai có khả năng chống chịu bệnh tốt và sinh trưởng nhanh. Phần lớn sản lượng thu hoạch được đưa vào các nhà máy chế biến thô để cung ứng cho thị trường xuất khẩu. Hiện nay, các tỉnh Bắc Trung Bộ đang dần cơ cấu lại quy trình sản xuất, nâng cao tiêu chuẩn an toàn sinh học và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến sâu để gia tăng giá trị thu nhập trên từng ha đất canh tác.
Tây Nguyên và bước tiến hiện đại hóa của dòng trà Ô Long
Lâm Đồng hiện là trung tâm sản xuất chè hiện đại và có tốc độ phát triển năng động bậc nhất cả nước với diện tích đạt khoảng 11.000 ha. Nhờ lợi thế địa hình độ cao lớn tại Bảo Lộc hay Cầu Đất, vùng đất này sở hữu khí hậu mát mẻ quanh năm, hoàn toàn phù hợp để du nhập và phát triển các giống chè chất lượng cao gốc Đài Loan như Ô Long Tứ Quý, Ngọc Thúy và Thanh Tâm. Bên cạnh Lâm Đồng, khu vực Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ còn có Gia Lai với hơn 800 ha và Đà Nẵng sở hữu hơn 88 ha.
Khác với phương thức sao chảo thủ công truyền thống ở phía Bắc, mảng sản xuất trà Ô Long tại Lâm Đồng được tự động hóa cao từ khâu thu hái đến quy trình lên men, vo viên và đóng gói. Sự xuất hiện của các chuỗi chế biến hiện đại cùng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ đã đưa Bảo Lộc trở thành thủ phủ sản xuất trà Ô Long quy mô lớn. Sự phân hóa rõ rệt về giống cây, công nghệ và đặc tính sản phẩm giữa bốn vùng chè cho thấy tiềm năng to lớn của nông nghiệp Việt Nam, giúp người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn dòng sản phẩm phù hợp với khẩu vị, đồng thời tạo tiền đề cho chiến lược định vị thương hiệu trà Việt trên bản đồ quốc tế.
Bảo An