Cánh võng trên rừng Trường Sơn

Giản dị nhưng gắn bó máu thịt với người lính Trường Sơn năm xưa, chiếc võng không chỉ là chỗ ngả lưng sau những chặng hành quân gian khổ, mà còn trở thành biểu tượng của tình đồng đội, của sức sống bền bỉ trong khói lửa chiến tranh. Cùng với những khúc ca bất hủ, cánh võng giữa đại ngàn đã đi vào ký ức một thế hệ, nhắc nhớ về một thời hào hùng và khắc ghi dấu ấn văn hóa – lịch sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam.

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, mỗi khi giai điệu ‘Bài ca bên cánh võng’ của nhạc sĩ Nguyên Nhung vang lên qua giọng hát trầm ấm của NSND Quý Dương hay tha thiết của ca sĩ An Thu An, người nghe như được đưa trở về với Trường Sơn hùng vĩ năm nào – nơi hiện lên một bức tranh vừa thơ mộng, vừa kiêu hãnh, thấm đẫm tinh thần bất khuất của cả một thời đại.

Cánh võng trên rừng Trường Sơn - Ảnh 1

Trong chiến tranh, gia tài của người lính thật giản dị, cùng với cây súng là chiếc ba lô con cóc đựng tư trang cá nhân: quần áo, tất, khăn tắm, khăn mặt, thuốc, bàn chải đánh răng, xà bông...Đeo bên hông là c bình tông nước, ca nhôm ( hoặc sắt). Có lẽ, không thể thiếu chiếc võng dù cuốn cẩn thận, gọn gàng. Nó được xem như “chiếc gường” cơ động êm ái, ru cho bộ đội ngủ ngon sau mỗi lần hành quân mệt nhọc. Năm tháng ấy, rừng Trường Sơn xanh ngút ngàn là nơi “che bộ đội, vây quân thù”, đã thành huyền thoại bởi gắn liền với đường mòn Hồ Chí Minh, đi vào dòng chảy âm nhạc, để lại những khúc ca bất hủ như: “Chiếc gậy Trường Sơn”, “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát”; “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, “Bài ca Trường Sơn” “Bài ca bên cánh võng”...

Chiếc võng bằng dù, màu xanh lúc nào cũng theo bộ đội ra chiến trường chiến đấu để giải phóng quê hương. Nó là người bạn đồng hành, chung chiến hào, người bạn tâm tình, tri kỷ của người lính. Cánh võng đã từng là chiếc nôi của bao người sinh ra, được nâng giấc ngủ ngon qua lời ru, hơi ấm, cơn gió mát của chiếc quạt làm bằng mo cau, nan tre của mẹ, của cha, của ông bà... Cánh võng là kỷ niệm đẹp đẽ, là bắt khởi đẩu cuộc sống, chứng kiến sự trưởng thành, sức trẻ, niềm tự hào của thế hệ chống Mỹ trong thế kỷ 20.

Trở lại cuộc sống đời thường, chiếc võng có mặt ở rất nhiều vùng quê nước mình. Võng được bện bằng sợi gai, dai chắc. Thân võng được đan thành ô để cho thoáng lưng người nằm. Hai đầu võng được bện chặt bằng dây gai to, chắc bền, chịu lực và ma sát để treo vào cột, vào cây cho chặt, an toàn khi người dùng ở trạng thái đung đưa dù nằm hay ngồi. Nằm võng trước hiên nhà, dưới tán cây ngoài vườn, cùng với chiếc quạt nan phe phẩy... đã là hình ảnh gần gũi một thời của người thôn quê, làng bản, xã khi nhiều nhà còn phải dùng đèn dầu, chưa có điện.

Nhiều xã chuyên làm cói, làm đay lấy sợi để đan võng cung cấp cho thị trường, từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều. Võng chủ yếu được bán rong, bán ở các chợ phiên. Tiếng rao nghe đâu đây còn vang vọng, gợi về một thời kinh tế đất nước còn tự cung tự cấp, đời sống vô cùng khó khăn. Làm võng đã là một nghề nuôi cuộc sống của bao gia đình. Sau dần, chiếc võng làm bằng sợi đay, sợi từ thân các loại cây đã được thay thế bằng vải bạt, vải dù, sợi ni lon, sợi cước.

Đất nước hòa bình, thống nhất, ở phía Nam, nổi lên thương hiệu võng xếp Duy Lợi, cung cấp ra thị trường sản phẩm võng ngày một đa dạng mẫu mã, luôn cải tiến, chủ yếu là khu vực phía Nam, sau rồi ra cả thị trường miền Trung, phía Bắc. Đây là doanh nghiệp tư nhân chuyên sản xuất ra các loại võng làm bằng sợi ni lon, vải dù, tu hút khách hàng bới việc cải tiến giá treo bằng nhôm, bằng sắt mạ để mắc võng thay cột nhà hay thân cây như trước. Lưng võng có lỗ vẫn được người dùng ưa thích vì thoáng. Lưng võng bằng các loại vải để trẻ nhỏ nằm an toàn hơn. Võng xếp Duy Lợi đã đồng hành với báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều thập kỷ qua trong hoạt động từ thiện xã hội rất thành công, để lại ấn tượng tốt đẹp về doanh nghiệp luôn vì cộng đồng trong thời mở cửa, hội nhập nền kinh tế thị trường.

Chỉ là chiếc võng vô cùng giản dị, nhưng chứa ẩn trong đó biết bao câu chuyện về cuộc kháng chiến trường kỳ vô cùng gian khổ mà anh dũng phi thường của những người lính. Có người đã hy sinh, bị chôn vùi cùng chiến võng; cánh võng đã từng cứu bao thương, bệnh binh trên đường trở lại trạm quân y hậu phương trên đường hành quân chiến đấu; chiếc võng dường như đã kể lại cuộc sống giản dị của người nông dân Việt, về sự sáng tạo không ngừng nghỉ của người thợ khi lưu giữ nghề truyền thống, cải tiến phát huy tác dụng riêng có của chiếc võng trong thời đại 4.0.

Chiếc võng đã trở thành “vũ khí, trang bị” không thể thiếu trong hoạt động quân sự trong bất cứ thời đại nào. Nó cũng là vật dụng rất có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày riêng có của người Việt Nam. Chiếc võng đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh, sự đa dạng về văn hóa Việt. Giờ đây, mỗi khi được nghe những ca khúc về Trường Sơn, không bao giờ quên lời ca da diết mà sao động lòng người về một thời đạn bom để không quên quá khứ hào hùng của dân tộc, để tri ân những người đã ngã xuống vì hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc, có người mãi ở lại với đại ngàn Trường Sơn: “Chiều Trường Sơn dào dạt võng đưa. Rừng ru ta thương yêu quê nhà. Như con thuyền trên bến, đợi rẽ sóng ra khơi. Về dưới xuôi, đồn thù bốc cháy nơi nơi. Võng theo ra chiến trường, võng theo ta giải phóng. Tổ quốc ơi! Muôn năm vững bền hai đầu. Lời ru xưa vỗ về. Lời ru nay thúc giục. Dồn lòng ta ra chiến trường...”.