Chè Việt bứt phá về giá trị xuất khẩu nhờ linh hoạt đổi trục thị trường

Dù gặp nhiều bất lợi tại các thị trường truyền thống, ngành chè Việt Nam trong bốn tháng đầu năm vẫn ghi nhận mức tăng trưởng về giá trị nhờ sự cải thiện của giá xuất khẩu bình quân và nỗ lực đa dạng hóa tệp đối tác quốc tế.

Theo số liệu thống kê mới nhất từ cơ quan hải quan, hoạt động xuất khẩu chè của Việt Nam trong bốn tháng đầu năm 2026 đang cho thấy những tín hiệu thay đổi rõ nét về cấu trúc. Tổng khối lượng chè xuất khẩu của cả nước trong giai đoạn này ước đạt 34,4 nghìn tấn, mang về giá trị 58,5 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, dù khối lượng xuất khẩu giảm 3,8%, tổng kim ngạch thu về lại đạt mức tăng trưởng dương 1,2%.

Điểm tựa cho sự gia tăng về mặt trị giá này đến từ việc giá xuất khẩu bình quân toàn ngành đã cải thiện, đạt mức 1.704,2 USD mỗi tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Xu hướng này thể hiện rõ ràng hơn trong tháng 4 khi giá bình quân vọt lên ngưỡng 1.799,0 USD mỗi tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ. Điều này giúp kim ngạch xuất khẩu của riêng tháng 4 đạt 15,8 triệu USD, tăng 6,4% dù lượng chè xuất đi giảm nhẹ 0,8%, giữ ở mức 8,8 nghìn tấn. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế nhận định rằng dù có sự chuyển biến tích cực, mức giá bình quân này hiện vẫn tương đối thấp so với mặt bằng chung của thị trường quốc tế. 

Bốn tháng đầu năm 2026 chứng kiến những bước thay đổi chiến lược trong cơ cấu đối tác xuất khẩu của các doanh nghiệp nội địa. Đài Loan đã vươn lên trở thành thị trường tiêu thụ chè lớn nhất của Việt Nam khi nhập khẩu 3,8 nghìn tấn, tương đương trị giá 7 triệu USD, đạt mức tăng bùng nổ 15,4% về lượng và 27,6% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân sang thị trường này đạt 1.831,2 USD mỗi tấn, tăng 10,6%.

Chè Việt bứt phá về giá trị xuất khẩu nhờ linh hoạt đổi trục thị trường - Ảnh 1

Ngược lại, các thị trường truyền thống lớn lại ghi nhận đà suy giảm rõ rệt. Xuất khẩu chè sang Trung Quốc giảm 9,4% về lượng và 7,5% về trị giá, đạt 3,4 nghìn tấn với 5,3 triệu USD. Đáng chú ý nhất là thị trường Pakistan khi khối lượng xuất khẩu sụt giảm sâu tới 71,3% và kim ngạch giảm 73,7%, chỉ còn đạt 2,9 nghìn tấn, tương đương 5 triệu USD.

Trước áp lực sụt giảm từ các đối tác lớn như Pakistan, các doanh nghiệp xuất khẩu đã nhanh chóng tìm kiếm các giải pháp thay thế bằng cách mở rộng sang các khu vực mới. Nhờ đó, dòng sản phẩm chè Việt đã tăng tốc mạnh mẽ tại thị trường Ấn Độ với mức tăng 51,7% về lượng và 56,1% về giá trị. Thị trường Philippines thậm chí còn ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 99,7% về khối lượng và 106,1% về kim ngạch. Sự bù đắp kịp thời từ các thị trường khác như Hoa Kỳ, Nga hay Malaysia đã cho thấy năng lực thích ứng khá linh hoạt của các doanh nghiệp trong việc đa dạng hóa tệp khách hàng để phân tán rủi ro. 

Mặc dù việc đa dạng hóa thị trường đã giúp ngành chè vượt qua các biến động ngắn hạn, thực tế vận hành dài hạn vẫn đặt ra bài toán lớn về chất lượng. Tỷ trọng các dòng chè xuất khẩu dạng thô, nguyên liệu thô sang một số quốc gia Đông Nam Á như Malaysia hay Indonesia hiện vẫn chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Đây chính là lý do khiến biên lợi nhuận của toàn ngành chưa cao.

Để thâm nhập sâu hơn vào các thị trường có giá trị gia tăng cao và đòi hỏi khắt khe như Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu (EU), con đường tất yếu là các doanh nghiệp phải nâng cấp công nghệ, đẩy mạnh khâu chế biến sâu và đáp ứng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm cũng như quy định về kiểm dịch động thực vật. Việc chuyển dịch từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang các sản phẩm tinh chế, có bao bì và thương hiệu rõ ràng sẽ giúp chè Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh về giá tại cả các thị trường khó tính lẫn các thị trường ngách giàu tiềm năng ở Trung Đông và Đông Nam Á.

Bảo An