Đề xuất sử dụng dữ liệu đất đai để cấp mã số vùng trồng
Chiều 13/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Đây được xem là giải pháp cấp bách nhằm tháo gỡ những vướng mắc đang ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản, đặc biệt là mặt hàng sầu riêng.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết việc đổi mới cơ chế cấp mã số vùng trồng không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn hướng tới xây dựng hệ thống quản lý sản xuất hiện đại, tăng cường truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm ngay từ thị trường trong nước.
Theo ông Nguyễn Hoàng Hiệp, trong thời gian chờ sửa đổi Nghị định 38, Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng dự thảo nghị quyết nhằm tháo gỡ ngay những khó khăn trong quá trình cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.
Điểm đáng chú ý của dự thảo là việc tận dụng cơ sở dữ liệu định danh đất đai để đơn giản hóa thủ tục. Theo đó, mã số vùng trồng sẽ được cấp trên cơ sở thông tin đất đai đã được định danh. Trường hợp khu vực sản xuất chưa có trong hệ thống dữ liệu này, UBND cấp xã sẽ xác nhận vị trí và diện tích để làm căn cứ cấp mã.
Theo lãnh đạo Bộ, cách làm này vừa giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp, vừa hạn chế tình trạng chồng chéo trong quản lý.
Đơn giản hóa thủ tục nhưng không hạ tiêu chuẩn
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh việc cắt giảm thủ tục hành chính không đồng nghĩa với nới lỏng các yêu cầu quản lý chất lượng.
Đối với nông sản phục vụ tiêu thụ trong nước, thời gian cấp mã số vùng trồng dự kiến chỉ còn 3 ngày kể từ khi tiếp nhận hồ sơ. Cơ quan quản lý sẽ thực hiện hậu kiểm để bảo đảm việc tuân thủ các quy định.
Trong khi đó, đối với nông sản xuất khẩu, quy trình tiền kiểm vẫn được duy trì với thời gian khoảng 10 ngày. Khoảng thời gian này nhằm giúp cơ quan chuyên môn đánh giá đầy đủ điều kiện sản xuất, khả năng đáp ứng các quy định của nước nhập khẩu cũng như hạn chế những rủi ro có thể ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Khuyến khích hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị các địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp xã, chủ động hướng dẫn người dân, hợp tác xã và các tổ hợp tác hoàn thiện hồ sơ đăng ký mã số vùng trồng từ sớm, tránh tình trạng dồn hồ sơ vào thời điểm thu hoạch hoặc khi phát sinh nhu cầu xuất khẩu.
Bên cạnh đó, Bộ khuyến khích các hộ sản xuất tăng cường liên kết, hình thành những vùng nguyên liệu tập trung có quy mô lớn thay vì chia nhỏ thành nhiều vùng sản xuất riêng lẻ. Theo đánh giá của cơ quan quản lý, mô hình này sẽ giúp việc cấp mã số vùng trồng thuận lợi hơn, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát chất lượng và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.
Ông Nguyễn Hoàng Hiệp cũng giao Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật nghiên cứu tham mưu để Bộ có văn bản gửi UBND các tỉnh, thành phố, phối hợp triển khai một chiến dịch xây dựng cơ sở dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói trên phạm vi cả nước. Cách làm này được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng dữ liệu thống nhất, tương tự như quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thời gian qua.
Đối với mặt hàng sầu riêng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tiếp tục làm việc với cơ quan chức năng Trung Quốc nhằm đẩy nhanh quá trình công nhận các mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói đã được Việt Nam đề xuất.
Song song với đó, hai bên sẽ trao đổi để điều chỉnh quy trình tiếp nhận hồ sơ theo hướng phù hợp hơn với đặc điểm mùa vụ, đồng thời tăng cường các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm.
Liên quan đến năng lực kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu sầu riêng, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định hệ thống phòng kiểm nghiệm tại các địa phương hiện cơ bản đáp ứng yêu cầu.
Riêng tại Đắk Lắk, Bộ đã làm việc với địa phương để rà soát năng lực kiểm nghiệm. Trường hợp phát sinh nhu cầu lớn trong thời gian cao điểm, Bộ sẽ huy động thêm 7 đơn vị kiểm nghiệm trực thuộc để hỗ trợ, bảo đảm không xảy ra tình trạng ùn tắc trong quá trình kiểm định trước khi xuất khẩu.
Việc hoàn thiện cơ chế cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch trong quản lý sản xuất, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nông sản Việt Nam, đặc biệt là sầu riêng, mở rộng thị trường xuất khẩu trong thời gian tới.