Di sản tri thức dân gian mở hướng phát triển mới cho ngành chè Thái Nguyên

“Tri thức trồng và chế biến chè Thái Nguyên” được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể không chỉ ghi nhận những kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua nhiều thế hệ, mà còn mở ra cơ hội khai thác sâu hơn giá trị văn hóa trong phát triển kinh tế chè. Khi tri thức bản địa được bảo tồn, kết hợp với đổi mới công nghệ, phát triển du lịch và xây dựng thương hiệu, di sản có thể trở thành nguồn lực tạo nên sức cạnh tranh khác biệt cho trà Thái Nguyên trên thị trường.

Những giá trị được chắt lọc qua nhiều thế hệ 

Theo Quyết định số 2889/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, “Tri thức trồng và chế biến chè Thái Nguyên” được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể, thuộc loại hình tri thức dân gian. Di sản gắn với 5 vùng chè tiêu biểu gồm Tân Cương, La Bằng, Đồng Hỷ, Vô Tranh và Đồng Phúc. Đây là sự ghi nhận đối với hệ thống kinh nghiệm, kỹ năng và những hiểu biết được cộng đồng người làm chè tích lũy, thực hành và trao truyền qua nhiều thế hệ.

Khác với những di sản có thể nhận diện qua công trình kiến trúc, hiện vật hay lễ hội, tri thức dân gian về nghề chè tồn tại chủ yếu trong chính hoạt động sản xuất và đời sống thường nhật. Giá trị ấy được thể hiện qua cách lựa chọn giống, nhận biết điều kiện đất đai, khí hậu, chăm sóc cây trồng, xác định thời điểm thu hái, cũng như kỹ thuật chế biến, bảo quản và thưởng thức. Nhiều kinh nghiệm không chỉ nằm trong quy trình được ghi chép mà còn được lưu giữ qua sự quan sát, thực hành và truyền dạy trực tiếp giữa những người làm nghề.

Di sản tri thức dân gian mở hướng phát triển mới cho ngành chè Thái Nguyên - Ảnh 1

Trong quá trình canh tác, người trồng chè phải am hiểu đặc điểm sinh trưởng của cây, điều kiện thời tiết và sự thay đổi của vùng nguyên liệu để điều chỉnh phương thức chăm sóc phù hợp. Đến khâu thu hái, việc lựa chọn độ non của búp, thời điểm thu hoạch và cách bảo quản nguyên liệu tiếp tục ảnh hưởng đến chất lượng thành phẩm. Sau đó, các công đoạn làm héo, diệt men, vò, sao và hoàn thiện sản phẩm đòi hỏi sự phối hợp giữa kỹ thuật, kinh nghiệm và khả năng cảm nhận của người thợ.

Đặc biệt, nghệ thuật chế biến chè truyền thống không đơn thuần là thực hiện các thao tác theo một công thức cố định. Người làm trà phải nhận biết sự thay đổi của nguyên liệu qua nhiệt độ, thời gian và trạng thái của búp chè để điều chỉnh kỹ thuật phù hợp. Chính sự tích lũy kinh nghiệm trong quá trình lao động đã tạo nên những bí quyết riêng, góp phần hình thành đặc trưng hương vị của từng vùng chè.

Bên cạnh giá trị trong sản xuất, tri thức về chè còn gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa của cộng đồng. Chén trà hiện diện trong sinh hoạt gia đình, trong những cuộc gặp gỡ, giao tiếp, tiếp khách và các dịp lễ, Tết. Cách pha trà, mời trà, thưởng trà cũng phản ánh nếp sống, sự tinh tế và quan niệm ứng xử của người dân địa phương. Qua thời gian, cây chè không chỉ tạo nên sinh kế mà còn góp phần định hình bản sắc văn hóa của vùng đất Thái Nguyên.

Di sản tri thức dân gian mở hướng phát triển mới cho ngành chè Thái Nguyên - Ảnh 2

Năm vùng chè được ghi danh mang những điều kiện sản xuất và đặc trưng riêng, tạo nên sự phong phú trong bức tranh văn hóa trà của địa phương. Tân Cương gắn với danh tiếng của dòng trà mang hương cốm đặc trưng; La Bằng nổi bật với vùng nguyên liệu và truyền thống sản xuất chè lâu đời; trong khi các vùng Đồng Hỷ, Vô Tranh, Đồng Phúc cũng lưu giữ những kinh nghiệm canh tác, chế biến riêng. Sự đa dạng ấy tạo nên một hệ thống tri thức có giá trị, không chỉ đối với cộng đồng nắm giữ di sản mà còn đối với quá trình xây dựng thương hiệu chung cho trà Thái Nguyên.

Chuyển hóa di sản thành lợi thế cạnh tranh cho trà Thái Nguyên 

Trong bối cảnh thị trường nông sản ngày càng chú trọng chất lượng, nguồn gốc và câu chuyện sản phẩm, việc ghi danh di sản mang lại cho chè Thái Nguyên thêm một nền tảng để nâng cao giá trị thương hiệu. Nếu trước đây sức hấp dẫn của sản phẩm chủ yếu được nhận diện qua hương vị, chất lượng và danh tiếng vùng trồng, thì nay tri thức dân gian được ghi nhận ở cấp quốc gia có thể trở thành một lớp giá trị bổ sung, giúp người tiêu dùng hiểu sâu hơn về nguồn gốc và quá trình hình thành sản phẩm.

Thực tế, trên thị trường, sản phẩm chè không chỉ cạnh tranh về giá bán hay sản lượng mà còn phải tạo được sự khác biệt về chất lượng, phương thức sản xuất và khả năng nhận diện thương hiệu. Trong bối cảnh đó, tri thức bản địa có thể trở thành lợi thế mà những vùng sản xuất khác khó có thể sao chép hoàn toàn. Đó là kinh nghiệm lựa chọn nguyên liệu, kỹ thuật chế biến, cảm quan nghề nghiệp và những tập quán thưởng trà đã được hình thành trong mối quan hệ lâu dài giữa con người với điều kiện tự nhiên của từng vùng.

Việc gắn thương hiệu trà với di sản vì thế cần được triển khai trên cơ sở làm rõ những giá trị cụ thể tạo nên sản phẩm. Người tiêu dùng không chỉ cần biết một loại trà được sản xuất ở đâu mà còn muốn hiểu điều gì làm nên sự khác biệt của sản phẩm ấy. Đó có thể là điều kiện thổ nhưỡng, giống chè, kỹ thuật thu hái, phương pháp chế biến truyền thống hay câu chuyện về những nghệ nhân đã dành nhiều năm gắn bó với nghề. Khi những yếu tố này được truyền tải một cách xác thực, sản phẩm sẽ có thêm cơ sở để tạo dựng niềm tin và nâng cao giá trị cảm nhận.

Cùng với đó, việc phát triển các sản phẩm chế biến sâu, đa dạng hóa hình thức đóng gói và phương thức thưởng thức cũng mở ra khả năng tiếp cận những phân khúc khách hàng mới. Trà truyền thống có thể tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, đồng thời trở thành nguyên liệu cho các dòng đồ uống sáng tạo, sản phẩm quà tặng văn hóa và những trải nghiệm ẩm thực gắn với bản sắc địa phương. Sự đổi mới này không nhất thiết làm thay đổi giá trị cốt lõi của trà, mà cần tạo thêm cách tiếp cận để di sản hiện diện trong đời sống tiêu dùng đương đại.

Trong khuôn khổ Festival Trà Quốc tế - Thái Nguyên năm 2026, các hoạt động giao lưu, diễn đàn trà quốc tế, không gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm và xúc tiến thương mại đã tạo điều kiện kết nối người làm chè, doanh nghiệp, hợp tác xã với đối tác và người tiêu dùng. Những hoạt động này góp phần mở rộng cơ hội quảng bá, đồng thời đưa câu chuyện về vùng nguyên liệu, kỹ thuật chế biến và văn hóa thưởng trà đến gần hơn với cộng đồng yêu trà trong nước và quốc tế.

Đặc biệt, việc kết nối di sản với du lịch đang mở ra không gian phát triển rộng hơn cho các vùng chè. Thay vì chỉ bán sản phẩm dưới dạng hàng hóa, địa phương có thể xây dựng những hành trình trải nghiệm gắn với cảnh quan đồi chè, hoạt động thu hái, chế biến, thưởng trà và tìm hiểu đời sống của người làm nghề. Du khách được trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất, lắng nghe câu chuyện về cây chè và cảm nhận hương vị trà tại chính vùng nguyên liệu. Khi đó, giá trị kinh tế không chỉ nằm ở sản phẩm được tiêu thụ mà còn được mở rộng sang dịch vụ lưu trú, ẩm thực, hướng dẫn trải nghiệm và các hoạt động văn hóa cộng đồng.

Di sản tri thức dân gian mở hướng phát triển mới cho ngành chè Thái Nguyên - Ảnh 3

Đối với những vùng chè như Tân Cương, La Bằng, việc kết hợp sản xuất với du lịch trải nghiệm có thể tạo thêm động lực khai thác cảnh quan và tri thức bản địa. Tuy nhiên, để hình thành sản phẩm du lịch có sức hút lâu dài, cần có sự liên kết giữa các hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và đơn vị làm du lịch. Những trải nghiệm cần được tổ chức bài bản, bảo đảm tính chân thực của hoạt động sản xuất, đồng thời đáp ứng yêu cầu về chất lượng dịch vụ và khả năng phục vụ du khách.

Bảo tồn di sản bắt đầu từ cộng đồng làm nghề 

Việc được ghi danh vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể là sự ghi nhận có ý nghĩa, nhưng bảo tồn và phát huy giá trị di sản là một quá trình lâu dài. Đối với tri thức trồng và chế biến chè, chủ thể quan trọng nhất vẫn là những người trực tiếp nắm giữ, thực hành và trao truyền kinh nghiệm. Nếu tri thức chỉ được lưu giữ trong hồ sơ, tư liệu mà không tiếp tục được vận dụng trong sản xuất và đời sống, giá trị của di sản sẽ khó có thể duy trì một cách bền vững.

Bởi vậy, cần tạo điều kiện để người trồng chè, nghệ nhân, các gia đình làm nghề và hợp tác xã tiếp tục phát huy vai trò trong bảo tồn di sản. Việc ghi chép, tư liệu hóa các kỹ thuật truyền thống, xây dựng cơ sở dữ liệu về giống chè, quy trình chế biến, kinh nghiệm canh tác và câu chuyện của các nghệ nhân sẽ góp phần hạn chế nguy cơ mai một tri thức. Song song với đó, hoạt động truyền dạy cần được duy trì trong cộng đồng, đặc biệt là khuyến khích thế hệ trẻ tham gia học nghề, tiếp nhận kinh nghiệm và tiếp tục phát triển những giá trị được trao truyền.

Một vấn đề có ý nghĩa lâu dài là phải bảo đảm người nắm giữ di sản được hưởng lợi từ chính những giá trị mà họ đang gìn giữ. Khi nghề chè mang lại thu nhập ổn định, sản phẩm có đầu ra và người sản xuất được ghi nhận xứng đáng, động lực bảo tồn sẽ được củng cố. Ngược lại, nếu tri thức truyền thống chỉ được khai

Kim Như