Lào Cai chuẩn hóa chuỗi giá trị chè Shan Tuyết

Lào Cai đang nắm giữ quần thể chè Shan tuyết cổ thụ lớn nhất Việt Nam, với gần một triệu cây phân bố trên các sườn núi cao. Nguồn tài nguyên quý giá này không chỉ mang ý nghĩa di sản thiên nhiên độc đáo mà còn được xác định là trụ cột kinh tế trong định hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa của địa phương.

Điểm khác biệt của chè Shan tuyết cổ thụ nằm ở chính hệ sinh thái đặc hữu. Cây chè sinh trưởng tự nhiên ở độ cao lớn, quanh năm mây mù bao phủ, nhiệt độ chênh lệch ngày đêm cao, thổ nhưỡng giàu mùn và khoáng chất. Lớp “tuyết” trắng mịn trên búp chè thực chất là lớp lông tơ dày, giúp bảo vệ búp non khỏi sương lạnh và côn trùng. Các nghiên cứu cho thấy, điều kiện sinh thái này làm tăng hàm lượng polyphenol, catechin và axit amin tự do, những hợp chất quyết định hương vị và giá trị chống oxy hóa của trà. Chính vì vậy, Shan tuyết cổ thụ được xếp vào nhóm trà đặc sản có tiềm năng cạnh tranh ở phân khúc cao cấp.

Chè Shan tuyết cổ thụ tại xã Cao Sơn, tỉnh Lào Cai.
Chè Shan tuyết cổ thụ tại xã Cao Sơn, tỉnh Lào Cai.

Tuy nhiên, trong nhiều năm, giá trị kinh tế của nguồn tài nguyên này chưa tương xứng. Sản xuất nhỏ lẻ, thiếu truy xuất nguồn gốc và phụ thuộc vào thương lái khiến người dân thường xuyên rơi vào vòng luẩn quẩn “được mùa mất giá”. Bước ngoặt chỉ thực sự xuất hiện khi địa phương xác định chiến lược chuẩn hóa vùng nguyên liệu gắn với chỉ dẫn địa lý và sản xuất hữu cơ.

Tại xã Văn Chấn, nơi có 84.000 cây chè cổ thụ tuổi đời từ 200 đến 500 năm, cây chè đã thoát khỏi vị thế cây trồng tự phát để trở thành sản phẩm OCOP tiềm năng 5 sao. Với 500 ha vùng nguyên liệu, trong đó 293 ha là rừng chè cổ thụ, địa phương đã thiết lập chỉ dẫn địa lý “Suối Giàng Văn Chấn” cho 5 đơn vị sản xuất chủ lực. Việc xác lập chỉ dẫn địa lý không đơn thuần là thủ tục pháp lý, mà là quá trình chuẩn hóa toàn bộ chuỗi giá trị: từ mã số vùng trồng, quy trình canh tác hữu cơ, thu hái một tôm hai lá đúng độ non, đến chế biến và bảo quản.

Theo tiến sỹ Đào Xuân Hưng, trà Shan tuyết Suối Giàng sở hữu tiềm năng vươn tầm quốc gia và quốc tế nhờ quần thể hơn 40.000 cây chè cổ thụ quý hiếm, nhiều cây từ 100 đến hơn 500 năm tuổi, phân bố trên 400 ha rừng tự nhiên ở độ cao khoảng 1.400 m. Đây là tài nguyên sinh thái và văn hóa hiếm có, gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng người Mông. Song ông cũng thẳng thắn chỉ ra những “nút thắt”: giá trị sản phẩm chưa tương xứng, thương hiệu chưa được định vị rõ ràng, chuỗi liên kết còn yếu và ứng dụng khoa học công nghệ chưa đồng bộ.

Những thay đổi gần đây cho thấy quyết tâm tháo gỡ các nút thắt ấy. Tại nhiều hợp tác xã, công nghệ số được áp dụng trong truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, dữ liệu vùng trồng được cập nhật theo thời gian thực. Trong chế biến, thay vì sao chè bằng củi thủ công gây khói bụi và nhiệt độ không ổn định, các cơ sở đã chuyển sang sử dụng điện và ga, kết hợp hệ thống kiểm soát nhiệt độ tự động. Điều này không chỉ giúp ổn định chất lượng mà còn giảm phát thải, phù hợp với xu hướng sản xuất xanh.

Sự chuyên nghiệp hóa đã tác động trực tiếp đến đời sống người dân. Bà Vàng Thị Gia, thôn Pang Cáng, chia sẻ rằng ngoài thu nhập từ vườn chè gia đình, công việc tại hợp tác xã mang lại mức lương ổn định khoảng 6 triệu đồng/tháng. Từ chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái, người dân nay tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, có hợp đồng thu mua dài hạn và được đào tạo kỹ thuật.

Mô hình kết hợp bảo tồn di sản và phát triển kinh tế cũng được triển khai bài bản tại xã Sơn Lương. Với hơn 500 ha chè Shan tuyết ở độ cao từ 1.200 đến 1.900 m, trong đó 80 ha chè cổ thụ tại thôn Giàng Pằng đã được công nhận Cây Di sản Việt Nam, địa phương xác định sản xuất hữu cơ là con đường duy nhất để giữ thương hiệu. Quan điểm “ba nhà” – Nhà nước, nhà nông và nhà đầu tư – được nhấn mạnh như trụ cột liên kết bền vững.

Dẫu vậy, bức tranh hồi sinh chưa hoàn toàn đồng đều. Tại xã Cao Sơn, dù có gần 40 ha chè cổ thụ với giá búp tươi đạt 60.000 – 70.000 đồng/kg, tình trạng ách tắc đầu ra vẫn xảy ra do thiếu năng lực chế biến sâu. Các xưởng thu mua hoạt động không ổn định khiến bà con gặp khó trong vụ cao điểm. Chính quyền địa phương thừa nhận, khâu kết nối doanh nghiệp và xây dựng thương hiệu còn hạn chế.

Bài toán đặt ra không chỉ là nâng giá búp tươi mà phải gia tăng giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu: trà bánh, trà lên men, trà túi lọc cao cấp, thậm chí chiết xuất tinh chất phục vụ ngành thực phẩm chức năng. Muốn vậy, cần đầu tư công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng chiến lược marketing bài bản.

Ở góc độ văn hóa – du lịch, trà Shan tuyết được xác định là “linh hồn thương hiệu vùng cao Tây Bắc”. Khi du khách đến với Suối Giàng, họ không chỉ thưởng trà mà còn trải nghiệm hái chè giữa rừng mây, nghe câu chuyện về cây cổ thụ trăm tuổi, tìm hiểu phong tục người Mông. Việc xác định tuổi cây, quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với du lịch trải nghiệm là hướng đi của “bảo tồn động” – bảo tồn trong phát triển.

Về phía doanh nghiệp, cam kết duy trì truy xuất nguồn gốc và hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt đang dần trở thành chuẩn mực. Chỉ dẫn địa lý không chỉ là “giấy thông hành” để vào siêu thị lớn trong nước, mà còn là cam kết chất lượng đối với người tiêu dùng quốc tế. Trong bối cảnh thị trường trà toàn cầu ngày càng đề cao minh bạch và bền vững, đây chính là lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Sự hồi sinh của vùng chè Shan tuyết cổ thụ ở Lào Cai cho thấy một quy luật rõ ràng: khi giá trị di sản được lượng hóa bằng tiêu chuẩn khoa học và bảo hộ pháp lý, tài nguyên thiên nhiên sẽ chuyển hóa thành tài sản kinh tế bền vững. Gắn quyền lợi người dân với giá trị chỉ dẫn địa lý không chỉ giúp nâng thu nhập, mà còn tạo động lực gìn giữ rừng chè cổ thụ, những “báu vật xanh” của núi rừng.

Trong giai đoạn tới, nhiệm vụ trọng tâm vẫn là hoàn thiện chuỗi giá trị khép kín, nâng cao năng lực chế biến sâu và mở rộng liên kết vùng. Khi những chén trà Shan tuyết mang theo câu chuyện về rừng mây, về cộng đồng người Mông và về cam kết chất lượng được chuẩn hóa, thương hiệu trà vùng cao không chỉ dừng lại ở tiềm năng, mà sẽ thực sự trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc.

Hiền Nguyễn

Từ khóa:
#g