Bức tranh xuất khẩu chè trong 8 tháng đầu năm 2026 chịu tác động dây chuyền từ những khó khăn trong khâu canh tác. Số liệu thống kê cho thấy tổng sản lượng xuất khẩu đạt 77,25 nghìn tấn với kim ngạch 143,48 triệu USD, giảm 9,8% về lượng và giảm 1,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Hạn hán kéo dài xen lẫn những đợt mưa lớn bất thường tại các vùng nguyên liệu miền núi phía Bắc và Tây Nguyên đã làm gián đoạn chu kỳ sinh trưởng của cây chè, kéo giảm năng suất và phẩm cấp búp tươi đạt chuẩn.
Riêng trong tháng 8/2026, lượng chè xuất khẩu đạt 12,78 nghìn tấn, giảm 9,3% nhưng giá trị đạt 26,69 triệu USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước. Việc giá trị tăng nghịch chiều với sản lượng cho thấy những lô hàng xuất xưởng đã chắt chiu hơn về chất lượng, tạo tấm đệm đỡ giúp kim ngạch chung không trượt dốc sâu.
Cùng với thời tiết, sự sụt giảm tại các đối tác truyền thống đang tạo ra cuộc rung lắc mạnh cho các đơn vị chuyên xuất khẩu chè thô. Điển hình tại Pakistan, thị trường tiêu thụ chè đen lớn nhất của Việt Nam, xuất khẩu 8 tháng qua rơi thẳng đứng khi chỉ đạt 11,9 nghìn tấn với giá trị 23,43 triệu USD, giảm tới 60,8% về lượng và 59,8% về giá trị. Nguyên nhân xuất phát từ áp lực khan hiếm ngoại tệ tại nước sở tại cùng các quy định kiểm soát mới về chứng nhận tiêu chuẩn Halal, khiến nhiều cơ sở gia công thô trong nước không kịp trở tay.
Xuất khẩu sang Trung Quốc cũng giảm cả về lượng lẫn giá trị do nhu cầu gom nguyên liệu giá rẻ chậm lại. Trái lại, thị trường Đài Loan ghi nhận tín hiệu khả quan khi lượng xuất đạt 9,23 nghìn tấn, giảm nhẹ 0,8% nhưng giá trị lại tăng 10,8%, đạt 18,88 triệu USD, cho thấy người tiêu dùng tại đây sẵn sàng chi trả mức giá cao cho những đơn hàng kiểm soát tốt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Điểm sáng giữ vững cán cân thương mại ngành chè chính là đà tăng của giá bán. Mức giá chè xuất khẩu bình quân trong 8 tháng đạt 1.777,7 USD/tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này phản ánh sự chủ động tái cơ cấu danh mục của các doanh nghiệp và hợp tác xã khi dồn lực phát triển các dòng sản phẩm giá trị gia tăng cao như chè ô long, chè ướp hoa tự nhiên và chè đặc sản có chỉ dẫn địa lý.
Đồng thời, dòng chảy chè Việt Nam cũng tiến sâu vào các thị trường khó tính như Nga, Mỹ và Trung Đông với mức tăng trưởng cao ở cả sản lượng lẫn kim ngạch. Việc chinh phục các khu vực đòi hỏi khắt khe về hồ sơ nguồn gốc và kiểm nghiệm vi sinh không chỉ giúp giảm bớt rủi ro phụ thuộc vào một vài đối tác lớn, mà còn khẳng định năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của các nhà xưởng nội địa.
Những tháng cuối năm 2026 luôn là điểm rơi tiêu thụ lớn nhất của thị trường chè toàn cầu nhờ nhu cầu tích trữ phục vụ lễ, Tết tại châu Á và thói quen sử dụng đồ uống nóng vào mùa đông tại Bắc Mỹ, Trung Đông. Giá xuất khẩu bình quân dự kiến tiếp tục neo ở mức cao, mở ra cơ hội phục hồi quy mô doanh thu.
Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng sẽ chỉ dành cho những chuỗi cung ứng sở hữu vùng nguyên liệu sạch, khả năng truy xuất minh bạch và thương hiệu riêng được bảo hộ. Những biến động trong 8 tháng qua là lời nhắc nhở thực tế rằng nền nông nghiệp không thể tiếp tục dựa vào bán xô nguyên liệu thô để thu ngoại tệ. Đầu tư chiều sâu vào công nghệ chế biến, nâng cao tỷ trọng chè tinh và xây dựng câu chuyện văn hóa cho từng sản phẩm là con đường duy nhất để ngành chè vượt qua các hàng rào kỹ thuật và duy trì sinh kế bền vững cho người làm vườn.
Bảo An