Ngành chè Việt Nam: Từ xuất khẩu thô đến tham vọng thương hiệu toàn cầu

Là thức uống phổ biến thứ hai thế giới chỉ sau nước, trà tạo nên thị trường toàn cầu trị giá hàng trăm tỷ USD mỗi năm. Khi ngành chè quốc tế bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ trước các yêu cầu mới về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu dùng vì sức khỏe, Việt Nam – quốc gia đứng thứ 5 thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè đang đứng trước bài toán chiến lược: tiếp tục xuất khẩu nguyên liệu giá thấp hay nâng cấp chuỗi giá trị để gia tăng sức cạnh tranh.

Nghịch lý sản lượng lớn, giá trị thấp

Việt Nam sở hữu vùng nguyên liệu trải dài từ trung du miền núi phía Bắc tới Tây Nguyên với điều kiện thổ nhưỡng đa dạng. Sản lượng búp tươi đã tăng từ 570.000 tấn năm 2005 lên 1.154.100 tấn năm 2024, nhờ giống mới chiếm khoảng 54% diện tích, cùng với việc áp dụng thâm canh và cải thiện kỹ thuật thu hái. Diện tích trồng chè đạt đỉnh 133.600 ha năm 2015 rồi thu hẹp dần về khoảng 121.900 ha năm 2024, phản ánh áp lực lợi nhuận và xu hướng chuyển đổi cây trồng tại nhiều địa phương.

Tuy nhiên, quy mô sản lượng lớn không đồng nghĩa với giá trị cao. Năm 2025, xuất khẩu chè đạt 136.952 tấn với kim ngạch gần 238 triệu USD, nhưng lại giảm 7,07% về lượng và 0,72% về giá trị so với năm 2024. Điểm đáng chú ý hơn là giá xuất khẩu bình quân chỉ dao động từ 1.644 USD đến 1.737 USD/tấn, tương đương 55 đến 65% mức bình quân thế giới vốn ở khoảng 2.600 USD/tấn năm 2023. So sánh với Sri Lanka đạt khoảng 5.850 USD/tấn cuối năm 2025 nhờ định vị thương hiệu Ceylon tea và hệ thống đấu giá minh bạch tại Colombo, hay Kenya duy trì 2.140 đến 2.270 USD/tấn, khoảng cách giá trị mà ngành chè Việt Nam đang bỏ lỡ là rất rõ ràng.

Tháng 1/2026 ghi nhận tín hiệu phục hồi tích cực khi xuất khẩu tăng 28% về lượng và 27% về trị giá, kim ngạch gần 21 triệu USD. Nhưng đây mới chỉ là nhịp hồi phục ngắn hạn, chưa đủ để thay đổi bức tranh cơ cấu vốn đã tồn tại nhiều năm.

Ngành chè Việt Nam: Từ xuất khẩu thô đến tham vọng thương hiệu toàn cầu - Ảnh 1

Điểm yếu cấu trúc và bài toán liên kết chuỗi

Căn nguyên của tình trạng xuất khẩu giá thấp nằm ở cấu trúc sản xuất manh mún và thiếu liên kết. Quy mô nông hộ bình quân chỉ khoảng 0,2 ha/hộ khiến chuỗi liên kết lỏng lẻo, khó triển khai các chứng nhận chất lượng quốc tế như Organic, VietGAP, GlobalGAP hay Rainforest Alliance vì chi phí kiểm toán và hồ sơ truy xuất vượt quá khả năng của từng hộ riêng lẻ. Chỉ khoảng 10% nhà máy chế biến có vùng nguyên liệu tự chủ hoặc liên kết chặt với nông dân, khiến chất lượng đầu vào không ổn định. Thời gian lưu bãi kéo dài làm suy giảm các hợp chất sinh học có giá trị trong lá tươi trước khi đưa vào chế biến.

Cấu trúc xuất khẩu hiện tại cũng phụ thuộc tới 94% vào chè xanh sao sấy phổ thông, khiến Việt Nam gần như vắng mặt ở các phân khúc sinh lời cao như trà chức năng, trà thảo mộc phối trộn hay trà đóng chai sẵn RTD. Trong khi đó, phân khúc trà thảo mộc và trà phối trộn đang tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm 8,1% tại nhiều nền kinh tế phát triển, và thị trường RTD toàn cầu được dự báo đạt 70,85 tỷ USD vào năm 2034 với tốc độ tăng trưởng 5,9%/năm.

Rủi ro tập trung thị trường và những xoay trục kịp thời

Sự phụ thuộc quá mức vào một số thị trường truyền thống đã để lại hậu quả rõ ràng khi Pakistan - từng là thị trường lớn - giảm mạnh nhập khẩu năm 2025 do khó khăn ngoại tệ và logistics, khiến tỷ trọng sụt xuống chỉ còn 7,5% trong tháng 1/2026 với khối lượng 930 tấn. Vụ 500 container bị ách tắc tại cảng Karachi cuối năm 2025 là bài học điển hình về rủi ro logistics và sự cần thiết của vai trò điều phối ngoại giao kinh tế cấp cao trong việc tháo gỡ những tình huống như vậy.

Tuy nhiên, ngành chè cũng đã có những phản ứng linh hoạt đáng ghi nhận. Doanh nghiệp đã xoay trục sang Iraq với mức tăng 51% về lượng và 49,8% về giá trị trong năm 2025. Philippines bùng nổ với mức tăng 544,7% về lượng và 312,2% về giá trị trong tháng 1/2026. Thái Lan nổi lên như một thị trường quan trọng, chiếm 34,24% thị phần về lượng nhập khẩu từ Việt Nam nhờ hợp thị hiếu trà xanh hương nhẹ phù hợp cho đồ uống pha lạnh. Các thị trường Nga, Ấn Độ và Ba Lan cũng có dấu hiệu phục hồi tích cực.

Ngành chè Việt Nam: Từ xuất khẩu thô đến tham vọng thương hiệu toàn cầu - Ảnh 2

Chè Shan tuyết cổ thụ - đòn bẩy định vị phân khúc cao cấp

Giữa bức tranh chung còn nhiều hạn chế, chè Shan tuyết cổ thụ nổi lên như một lợi thế cạnh tranh thực sự mà Việt Nam cần khai thác bài bản hơn. Phân bố ở độ cao trên 800m tại Hà Giang, Yên Bái và một số tỉnh miền núi phía Bắc, những cây chè sinh trưởng chậm trong điều kiện tự nhiên đặc thù này tích lũy vi chất dày, có lông mao trắng đặc trưng và phù hợp với tiêu chí hữu cơ tự nhiên. Giá bán loại chè này cao gấp nhiều lần so với chè bulk thông thường vốn chỉ ở mức 1,6 đến 1,7 USD/kg, và hoàn toàn có khả năng thâm nhập phân khúc trà thượng hạng Fine Tea tại châu Âu và Mỹ.

Để hiện thực hóa tiềm năng này, chiến lược cần đồng thời quy hoạch vùng lõi bảo tồn, xây dựng chỉ dẫn địa lý gắn với địa danh cụ thể, và kể câu chuyện văn hóa cộng đồng bản địa một cách có hệ thống. Bảo tồn phải song hành với phát triển để tránh khai thác tận diệt, duy trì năng suất thấp ở mức hợp lý nhằm bảo toàn chất lượng cảm quan độc bản - thứ tạo nên giá trị không thể sao chép của dòng chè này. 

Khung chính sách đến năm 2030 xác lập mục tiêu ổn định sản lượng búp tươi từ 1,2 đến 1,4 triệu tấn, với ưu tiên rõ ràng là nâng chất lượng thay vì mở rộng diện tích. Tái cấu trúc chuỗi giá trị đòi hỏi đầu tư hệ thống chiết xuất, cô đặc chân không, sấy phun và kiểm soát vi khí hậu bằng cảm biến IoT, cùng với chuẩn hóa chuỗi lạnh để đáp ứng hợp đồng B2B quy mô lớn. Phát triển danh mục đa dạng hơn với bạch trà, hồng trà, trà lên men và kombucha nền trà Việt cũng là hướng đi cần được đẩy mạnh.

Tích hợp công nghệ blockchain vào truy xuất nguồn gốc cho phép khách hàng quét mã QR để kiểm chứng lô đất, chứng chỉ và hành trình giảm phát thải - tạo ra giá trị vô hình nhưng có tính quyết định trong việc định giá premium trên các thị trường khó tính. Khi mỗi lô chè xuất khẩu tích hợp đầy đủ truy xuất số, chứng nhận bền vững và câu chuyện di sản, ngành chè Việt Nam mới có thể thực sự chuyển dịch từ vị trí cung ứng sinh khối giá rẻ sang vai trò kiến tạo giá trị cao trong chuỗi thương mại nông sản toàn cầu.

Bảo An