Nhu cầu nguyên liệu chế biến của thị trường Nhật Bản và cơ hội đối với chè Thái Nguyên

Nhu cầu tiêu thụ matcha và trà xanh đang có xu hướng tăng trưởng trên toàn cầu trong bối cảnh Nhật Bản thiếu hụt nguồn cung thô trong nước, mở ra cơ hội để ngành chè Thái Nguyên dịch chuyển từ xuất khẩu sơ chế sang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế.

Nhu cầu dịch chuyển chuỗi cung ứng thô từ các doanh nghiệp Nhật Bản

Thị trường thực phẩm và đồ uống thế giới đang ghi nhận sự tăng trưởng ổn định của các sản phẩm có nguồn gốc từ matcha và trà xanh. Tuy nhiên, một số báo cáo thị trường cho thấy Nhật Bản, một trong những quốc gia sản xuất và chế biến trà lớn, đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn nguyên liệu thô nội địa phục vụ cho công nghiệp chế biến sâu. Sự thu hẹp diện tích đất nông nghiệp cùng xu hướng già hóa lực lượng lao động tại các vùng trồng truyền thống là những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này. Để bảo đảm chuỗi cung ứng ổn định, nhiều doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản đang chủ động tìm kiếm các đối tác có quy mô vùng trồng lớn và chất lượng đồng đều ở nước ngoài. 

Trong xu thế đó, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích trồng chè khoảng 24.000 ha trở thành một điểm đến được các nhà đầu tư chú ý. Tại cuộc làm việc mới đây giữa lãnh đạo UBND tỉnh Thái Nguyên và Công ty TNHH Food Force (Nhật Bản), đại diện đối tác nhận định Việt Nam có tiềm năng lớn về chè nhưng phần lớn sản lượng xuất khẩu hiện nay vẫn tồn tại dưới dạng nguyên liệu thô hoặc sơ chế, mang lại giá trị thặng dư chưa cao. Việc các doanh nghiệp Nhật Bản tìm kiếm nguồn cung ứng nguyên liệu chế biến tại địa phương được đánh giá là cơ hội để chè Thái Nguyên cải thiện cơ cấu xuất khẩu, giảm tỷ trọng sản phẩm thô và từng bước tiếp cận phân khúc thị trường có giá trị cao hơn.

Nhu cầu nguyên liệu chế biến của thị trường Nhật Bản và cơ hội đối với chè Thái Nguyên - Ảnh 1

Yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và giải pháp chuẩn hóa vùng chuyên canh

Dù dư địa mở rộng thị trường là tương đối rõ ràng, song việc tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Nhật Bản đòi hỏi sự đáp ứng khắt khe về các tiêu chuẩn kỹ thuật. Đại diện phía Food Force chia sẻ, đơn vị đặc biệt quan tâm đến quy trình canh tác thực địa, bao gồm việc kiểm soát nghiêm ngặt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng kim loại nặng trong đất, cũng như hệ thống quản lý chất lượng và năng lực cung ứng các giống chè phù hợp với tiêu chuẩn chế biến matcha. Điều này đặt ra yêu cầu bắt buộc đối với các hợp tác xã và doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh phải thay đổi các phương thức canh tác manh mún, chuyển sang quy trình thâm canh có kiểm soát và tính đồng nhất cao. 

Để giải quyết bài toán kiểm định, chính quyền tỉnh Thái Nguyên đang tập trung tổ chức lại quy hoạch các vùng chè nguyên liệu. Định hướng này đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 11-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025 - 2030, trong đó nhấn mạnh mục tiêu phát triển theo hướng xanh, bền vững, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Việc thắt chặt quản lý mã số vùng trồng, áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc và xây dựng các chuỗi liên kết giữa hộ nông dân, hợp tác xã với các nhà máy chế biến được xem là giải pháp căn cơ để tạo ra nguồn nguyên liệu đạt chuẩn, đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm từ phía đối tác.

Nhu cầu nguyên liệu chế biến của thị trường Nhật Bản và cơ hội đối với chè Thái Nguyên - Ảnh 2

Định hướng tiếp nhận chuyển giao công nghệ và tối ưu hóa giá trị sản phẩm

Ở góc độ quản lý vĩ mô, sự hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài còn mở ra cơ hội để ngành chè địa phương tiếp cận và hấp thụ công nghệ chế biến hiện đại. Lãnh đạo UBND tỉnh Thái Nguyên bày tỏ mong muốn các doanh nghiệp Nhật Bản tăng cường khảo sát, kết nối sâu hơn với các hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu tại địa phương để thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ sấy, nghiền mịn tiêu chuẩn cao. Việc thiết lập mối quan hệ hợp tác dài hạn này giúp Thái Nguyên từng bước nâng cao năng lực sản xuất bột trà xanh chất lượng cao ngay tại vùng nguyên liệu, từ đó tối ưu hóa chi phí vận chuyển và gia tăng biên lợi nhuận so với phương thức xuất khẩu thô trước đây. 

Quá trình dịch chuyển này đòi hỏi các chủ thể hợp tác xã phải thay đổi tư duy sản xuất truyền thống, chuyển dần sang mô hình canh tác dựa trên các đơn đặt hàng kỹ thuật và nhu cầu thực tế của thị trường tiêu thụ. Sự đồng hành của chính quyền địa phương thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục, hành lang pháp lý cho các đối tác FDI khảo sát vùng nguyên liệu sẽ là cơ sở quan trọng. Nếu kiểm soát tốt chất lượng sản phẩm từ khâu canh tác và tận dụng hiệu quả xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng của Nhật Bản, chè Thái Nguyên không chỉ củng cố vị thế tại thị trường nội địa mà còn có cơ hội tham gia sâu hơn vào mạng lưới cung ứng thực phẩm toàn cầu.

Bảo An