Nông sản Việt trước làn sóng xanh và biến động nhân khẩu học

Những thay đổi về cấu trúc hộ gia đình cùng yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về tiêu chuẩn xanh tại các quốc gia nhập khẩu đang đặt ra yêu cầu dịch chuyển mô hình sản xuất của ngành nông sản Việt Nam từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu và minh bạch hóa thông tin.

Thay đổi cấu trúc nhân khẩu học và các rào cản kỹ thuật tại thị trường Đông Á

Hoạt động thương mại nông sản quốc tế hiện nay không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố truyền thống như giá cả hay sản lượng. Tại các thị trường tiêu thụ lớn ở khu vực Đông Á như Nhật Bản và Hàn Quốc, xu hướng biến động nhân khẩu học đang hình thành nên những quy cách thương mại mới. Tỷ trọng các hộ gia đình đơn thân hoặc quy mô 2 người tại các đô thị lớn đang tăng mạnh, kéo theo sự thay đổi trong thói quen mua sắm.

Người tiêu dùng có xu hướng hạn chế mua các gói nông sản thô khối lượng lớn, thay vào đó là ưu tiên các sản phẩm được sơ chế sạch, chia nhỏ khẩu phần tiện lợi để sử dụng ngay hoặc chế biến nhanh trong ngày nhằm giảm thiểu phần thừa. Thông tin từ các cơ quan đại diện thương mại Việt Nam tại Hàn Quốc cho thấy, việc duy trì thói quen đóng gói theo quy cách cũ, xuất khẩu thô đang phần nào làm giảm khả năng tiếp cận trực tiếp của nông sản nội địa vào các chuỗi logistics tiện lợi tại nước bạn.

Nông sản Việt trước làn sóng xanh và biến động nhân khẩu học - Ảnh 1

Bên cạnh quy cách sản phẩm, hệ thống rào cản kỹ thuật về kiểm dịch thực vật và quy chuẩn bao bì tại các nước nhập khẩu cũng được siết chặt. Tại thị trường Nhật Bản, các quy định pháp lý về giới hạn dư lượng chất bảo vệ thực vật, danh mục chất phụ gia và tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm liên tục được cập nhật. Lô hàng xuất khẩu có nguy cơ bị từ chối thông quan hoặc trả lại nếu hình thức đóng gói không bảo đảm yêu cầu thông tin hoặc nhãn mác thiếu ngôn ngữ bản địa.

Sự thiếu chủ động trong việc cập nhật các thay đổi chính sách từ nước nhập khẩu có thể gây ra những thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng đến uy tín thương mại. Ngoài ra, việc xây dựng và đồng bộ hệ thống chứng nhận chất lượng đạt chuẩn quốc tế vẫn là điều kiện bắt buộc để nông sản Việt Nam có thể thâm nhập sâu vào các chuỗi phân phối hiện đại như siêu thị và cửa hàng tiện lợi.

Định hướng sơ chế sâu và phát triển sản phẩm theo thị hiếu tiêu dùng

Để thích ứng với các tiêu chuẩn kỹ thuật mới, quy trình sản xuất của ngành nông nghiệp cần có những bước điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường đích. Việc ứng dụng công nghệ sơ chế sâu, phân tách khẩu phần, cấp đông nhanh và đóng gói hút chân không hỗ trợ kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm tươi, đồng thời tối ưu hóa giá trị thặng dư cho nông sản. Theo phân tích từ các chuyên gia thương mại, nhóm sản phẩm đã qua chế biến, được đóng gói đúng quy cách và cung cấp thông tin chuẩn xác bằng ngôn ngữ địa phương có khả năng mang lại biên lợi nhuận ổn định hơn so với việc xuất khẩu các mặt hàng dạng thô nguyên bản. 

Song song với việc hoàn thiện hình thức bên ngoài, đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất xanh và chứng nhận hữu cơ (organic) là yêu cầu cần thiết để duy trì sự hiện diện bền vững tại các thị trường khó tính. Nhiều quốc gia nhập khẩu đang dần xem các quy định về giảm phát thải và canh tác an toàn sinh học là điều kiện bắt buộc để hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường. Thực tế này đòi hỏi các hợp tác xã và doanh nghiệp xuất khẩu phải đẩy mạnh việc xây dựng các vùng chuyên canh tập trung, áp dụng đồng bộ quy trình kiểm soát sinh học và quản lý nghiêm ngặt việc sử dụng vật tư nông nghiệp, bảo đảm chất lượng sản phẩm đầu ra đồng đều trước khi bước vào các công đoạn kiểm nghiệm tại cửa khẩu.

Nông sản Việt trước làn sóng xanh và biến động nhân khẩu học - Ảnh 2

Số hóa dữ liệu và vai trò của hệ thống truy xuất nguồn gốc

Việc thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc số hóa được xem là giải pháp cần thiết để chứng minh tính minh bạch của hàng hóa trước các cơ quan kiểm dịch quốc tế. Cần xác định rõ, công cụ công nghệ này là phương thức kỹ thuật giúp ghi nhận và chứng minh sản phẩm được sản xuất theo đúng quy trình, kiểm soát tốt các yếu tố rủi ro và xác thực chính xác mã số vùng trồng cũng như cơ sở đóng gói. Mọi lô hàng khi xuất khẩu vẫn phải tuân thủ đầy đủ và nghiêm ngặt các quy trình kiểm dịch thực vật theo thông lệ quốc tế hiện hành. 

Nhằm xây dựng nền tảng dữ liệu đồng bộ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang triển khai các giải pháp hoàn thiện hạ tầng số chuyên ngành. Hiện tại, dữ liệu của hàng vạn sản phẩm nông sản từ các vùng chuyên canh trên cả nước đã được kết nối vào hệ thống quản lý quốc gia. Các giải pháp công nghệ như chuỗi khối cũng được nghiên cứu áp dụng để tăng cường tính bảo mật, ngăn ngừa rủi ro gian lận thông tin và bảo đảm độ tin cậy của dữ liệu lưu trữ. Công tác số hóa này đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các cơ quan chức năng điều tiết thị trường, đồng thời xây dựng niềm tin dài hạn đối với người tiêu dùng tại các quốc gia nhập khẩu.

Bảo An