Bước tiến chuyển đổi số trên những đồi chè
Tỉnh Thái Nguyên hiện đã cấp và quản lý 149 mã vùng trồng chè được tích hợp hệ thống định vị toàn cầu GPS. Việc số hóa này nhằm phục vụ công tác theo dõi, truy xuất nguồn gốc sản phẩm và bảo đảm tuân thủ các quy định khắt khe về an toàn thực phẩm. Với tổng diện tích canh tác trên 900 ha, vùng chè được cấp mã đạt sản lượng ước tính khoảng 11.300 tấn chè búp tươi mỗi năm. Trong cơ cấu này, 84 mã vùng trồng được định hướng phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và 25 mã đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường quốc tế.
Để đưa công nghệ vào sâu đời sống sản xuất, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên đã bắt tay cùng VNPT Thái Nguyên triển khai mô hình thí điểm giải pháp số cho ngành chè. Thông qua ứng dụng VNPT Green, lực lượng chuyên môn đã đôn đốc và hướng dẫn quy trình vận hành nhật ký canh tác điện tử cho 45 tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp tại nhiều địa bàn trọng điểm như Tân Cương, Quyết Thắng, Đại Phúc, Đồng Hỷ, Văn Hán, Quân Chu, Vạn Phú, Phú Xuyên. Việc cập nhật thường xuyên lịch trình gieo trồng, bón phân và thu hoạch lên hệ thống giúp công tác giám sát dịch bệnh cũng như kiểm soát chất lượng đầu ra trở nên chủ động và chính xác hơn.
Hạ tầng dữ liệu và những khoảng trống tại cơ sở
Theo đánh giá từ cơ quan chuyên môn, các phần mềm quản lý sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh đang vận hành tương đối ổn định. Hệ thống sở hữu khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu thông qua cổng API, tạo nền tảng vững chắc cho việc minh bạch thông tin nông sản. Cùng với hệ thống quản lý 149 mã vùng trồng, ngành nông nghiệp địa phương còn đưa vào khai thác phần mềm cảnh báo sinh vật gây hại, tích hợp dữ liệu kiểm dịch thực vật, công tác thanh tra cùng danh mục các cửa hàng cung ứng vật tư nông nghiệp. Đối với mảng quản lý chất lượng, hệ thống phần mềm chuyên ngành của tỉnh đã ghi nhận hơn 500 tài khoản đăng ký, theo dõi trên 5.000 cơ sở, quản lý 222 vùng sản xuất với diện tích gần 1.400 ha và thiết lập nhật ký điện tử cho 87 dòng sản phẩm.
Dù đã đạt được những kết quả ban đầu, bức tranh tổng thể về truy xuất nguồn gốc nông sản tại Thái Nguyên vẫn đối mặt với không ít rào cản. Toàn tỉnh hiện có khoảng 80.000 cơ sở sản xuất nhưng phần lớn là các hộ gia đình quy mô nhỏ lẻ. Số lượng doanh nghiệp và hợp tác xã đủ năng lực ứng dụng nền tảng số chỉ chiếm khoảng 400 đến 500 đơn vị. Đa số nông hộ còn lại vẫn duy trì thói quen ghi chép nhật ký bằng sổ giấy thủ công, khiến dữ liệu bị phân tán và khó tích hợp lên hệ thống chung.
Bài toán liên kết chuỗi và giải pháp minh bạch hóa
Việc triển khai truy xuất nguồn gốc gặp khó khăn do mô hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn còn manh mún, tính liên kết giữa các khâu sản xuất, chế biến và phân phối chưa thật sự chặt chẽ. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý hiện hành chưa có quy định bắt buộc toàn bộ nông dân phải ghi chép nhật ký trên môi trường số. Đa phần các ứng dụng công nghệ hiện mới chỉ tập trung vào cây chè và triển khai ở nhóm doanh nghiệp, hợp tác xã lớn có hoạt động xuất khẩu.
Một thực trạng khác là nhiều người sản xuất chưa duy trì thói quen lưu trữ thông tin canh tác một cách đều đặn. Việc cập nhật dữ liệu đôi khi chỉ mang tính chất quảng cáo bề nổi thay vì phản ánh chính xác từng giai đoạn sinh trưởng của cây trồng. Điều này dẫn đến tình trạng khi xảy ra sự cố về an toàn thực phẩm, cơ quan chức năng rất khó truy cứu nguyên nhân gốc rễ để thu hồi sản phẩm. Ngoài ra, sự thiếu đồng bộ và gián đoạn kết nối giữa các hệ thống dữ liệu của Bộ, ngành và địa phương cũng tạo ra rào cản lớn cho việc quản lý toàn vẹn chuỗi cung ứng.
Chiến lược nâng tầm giá trị thương hiệu chè Thái
Để giải quyết triệt để những điểm nghẽn này, tỉnh Thái Nguyên đang tập trung chỉ đạo siết chặt công tác kiểm soát chất lượng nông lâm thủy sản, gắn kết chặt chẽ với hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tỉnh sẽ đẩy mạnh các chương trình tập huấn, nâng cao kỹ năng số cho người dân và các chủ cơ sở kinh doanh, giúp họ hiểu rõ lợi ích của việc minh bạch thông tin sản phẩm.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên tiếp tục hỗ trợ phát triển các vùng nguyên liệu tập trung theo hướng an toàn, mở rộng diện tích đạt chứng nhận VietGAP, hữu cơ và cấp mã số vùng trồng. Tỉnh cũng ban hành danh mục nông sản bắt buộc phải truy xuất nguồn gốc, đồng thời chuẩn hóa dữ liệu ngay từ khâu gieo trồng ban đầu. Việc tích hợp đầy đủ kết quả kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng cùng mã QR và tem điện tử sẽ giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra toàn bộ hành trình của sản phẩm, từ đó củng cố niềm tin và nâng cao năng lực cạnh tranh cho danh trà Thái Nguyên trên thị trường.
Bảo An