VIFC-DN đứng thứ 71/117 trung tâm tài chính toàn cầu: Cơ hội từ những lợi thế riêng

Việc Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN) lần đầu được xếp hạng 71/117 trung tâm tài chính trong Global Financial Centres Index (GFCI) 40 tạo thêm cơ sở để Đà Nẵng định hình mô hình tài chính chuyên biệt, dựa trên công nghệ, nhân lực chất lượng cao và các sản phẩm tài chính mới.

Theo GFCI 40, VIFC-DN đứng thứ 71 trong số 117 trung tâm tài chính được xếp hạng, trên tổng số 139 trung tâm được nghiên cứu. Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) đứng thứ 67.

Tòa nhà 20 tầng tại Khu công viên phần mềm số 2, nơi bố trí không gian hoạt động của VIFC-DN. Ảnh: Internet
Tòa nhà 20 tầng tại Khu công viên phần mềm số 2, nơi bố trí không gian hoạt động của VIFC-DN. Ảnh: Internet

Đây là lần đầu VIFC-DN xuất hiện trong bảng xếp hạng các trung tâm tài chính toàn cầu. Với một trung tâm đang trong quá trình hình thành, vị trí này cho thấy Đà Nẵng đã bước đầu được đặt vào hệ thống tham chiếu quốc tế về năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính.

Tuy nhiên, thứ hạng 71 cũng cho thấy khoảng cách đáng kể so với những trung tâm đã có vị thế cao trên thị trường. Đây là bài toán đặt ra trong quá trình VIFC-DN chuyển từ xây dựng nền tảng sang hình thành hoạt động tài chính có quy mô và sức cạnh tranh thực chất.

GFCI do Z/Yen (London) và Viện Phát triển Trung Quốc (CDI, Thâm Quyến) phối hợp thực hiện, công bố định kỳ hai lần mỗi năm. Chỉ số đánh giá các trung tâm tài chính trên 5 nhóm tiêu chí gồm môi trường kinh doanh, vốn nhân lực, hạ tầng, phát triển khu vực tài chính và danh tiếng.

GFCI 40 sử dụng 39.531 lượt đánh giá của 6.147 người trả lời đối với 139 trung tâm tài chính. Trong đó, 117 trung tâm đủ điều kiện đưa vào bảng xếp hạng chính, 22 trung tâm còn lại được xếp nhóm “liên kết” do chưa đạt số lượt đánh giá cần thiết.

Bên cạnh khảo sát trực tuyến, GFCI còn sử dụng mô hình thống kê với 144 chỉ số nền từ hơn 80 nguồn dữ liệu quốc tế, trong đó có Ngân hàng Thế giới, OECD và Liên Hợp Quốc. Vì vậy, thứ hạng phản ánh không chỉ mức độ nhận diện mà còn tương quan về môi trường kinh doanh, hạ tầng, nhân lực và năng lực phát triển tài chính.

Chọn phân khúc thay vì cạnh tranh về quy mô

Với vị trí hiện tại, bài toán của VIFC-DN không nằm ở việc chạy đua quy mô với những trung tâm tài chính đã hình thành từ lâu trong khu vực. Hướng Đà Nẵng lựa chọn là xây dựng một trung tâm tài chính thế hệ mới, tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo khác biệt.

Công nghệ là một trong những nền tảng được thành phố ưu tiên. Đà Nẵng đang phát triển 7 trung tâm dữ liệu với quy mô gần 1.500 rack, thu hút các dự án trung tâm dữ liệu quốc tế đạt chuẩn Tier III và Tier IV, đồng thời triển khai thêm trạm cáp quang biển cập bờ thứ hai.

Nền tảng này tạo điều kiện để Đà Nẵng phát triển các lĩnh vực tài chính mới như fintech, thanh toán số, tài sản số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tài chính. Một số đề án về blockchain và sàn giao dịch dữ liệu cũng đang được thúc đẩy.

Hạ tầng phục vụ VIFC-DN được chuẩn bị theo hướng đáp ứng hoạt động tài chính có tính kết nối cao. Trong giai đoạn đầu, hơn 4.000 m² không gian làm việc được bố trí cho Trung tâm. Tòa nhà 20 tầng tại Khu công viên phần mềm số 2, với tổng diện tích sàn hơn 27.000 m², đã được đưa vào khai thác, đáp ứng các yêu cầu về kết nối, dữ liệu và máy chủ.

Nếu hạ tầng tạo điều kiện cho hoạt động thì nhân lực quyết định khả năng vận hành mô hình. VIFC-DN đã thu hút 3 chuyên gia quốc tế đảm nhiệm các vị trí chuyên môn chủ chốt, có kinh nghiệm tại Qatar, Kenya và nhiều thị trường tài chính lớn.

Cùng với thu hút nhân lực từ bên ngoài, Đà Nẵng cũng chuẩn bị nguồn nhân lực trong nước theo hướng dài hạn. Ngày 29/5/2026, Đại học Đà Nẵng phối hợp với Trường Quản lý và Kinh tế - Đại học Trung văn Hồng Kông tại Thâm Quyến thành lập Học viện Fintech và tài chính bền vững tại Đà Nẵng.

Mục tiêu là hình thành nguồn nhân lực có chuyên môn về tài chính, công nghệ và phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu của hệ sinh thái tài chính mới.

Sản phẩm tài chính phải tạo được dòng giao dịch thực

Một trung tâm tài chính không thể duy trì sức cạnh tranh chỉ dựa trên hạ tầng hoặc cơ chế chính sách. Khả năng thu hút vốn, hình thành giao dịch và tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường mới quyết định mức độ phát triển thực chất.

Theo định hướng được xây dựng, VIFC-DN tập trung vào các lĩnh vực như fintech, tài chính xanh, tài chính thương mại, quản lý tài sản, các mô hình tài chính mới và những nền tảng giao dịch chuyên biệt.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực, Đà Nẵng đang xây dựng 3 đề án phát triển sản phẩm chủ lực, gồm thu hút công ty quản lý tài sản và quỹ đầu tư để huy động vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển; thành lập, thí điểm hoạt động Sở giao dịch hàng hóa; thí điểm Sàn giao dịch tín chỉ các-bon tự nguyện phục vụ giao dịch quốc tế.

Trong lĩnh vực quản lý tài sản và quỹ đầu tư, VIFC-DN đang làm việc với một số tổ chức quản lý quỹ, tổ chức quản lý tài sản, quỹ đầu tư quốc gia nước ngoài và ngân hàng nước ngoài. Mục tiêu là hình thành kênh huy động, phân bổ nguồn vốn quốc tế cho các dự án hạ tầng, năng lượng, cảng - logistics, hạ tầng số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, fintech và tài trợ chuỗi cung ứng.

Đối với Sở giao dịch hàng hóa, các phương án tổ chức thị trường giao dịch vật chất đang được nghiên cứu với sự tham gia của đối tác, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và những địa phương có nguồn nguyên liệu lớn. Các mặt hàng được xem xét trước gồm cà phê Robusta, hồ tiêu và viên nén gỗ; sau đó có thể mở rộng sang cao su, gạo, điều, ca cao và những sản phẩm có giá trị kinh tế cao khi đáp ứng đủ điều kiện.

Tài chính xanh và thị trường các-bon cũng là hướng được VIFC-DN đặt trọng tâm. Trung tâm đang phối hợp với các đối tác nghiên cứu chương trình tạo lập tài sản môi trường tại Đà Nẵng, hướng tới mở rộng ra khu vực miền Trung - Tây Nguyên, đồng thời xây dựng phương án thành lập sàn giao dịch tín chỉ các-bon với hai nhóm sản phẩm ưu tiên là tín chỉ các-bon tự nguyện và tín chỉ loại bỏ các-bon.

Những định hướng này phù hợp với xu thế được GFCI 40 ghi nhận. Trong 5 năm tới, các trung tâm tài chính được dự báo tiếp tục ưu tiên hạ tầng số, thu hút doanh nghiệp fintech và tài sản số, tăng cường cơ chế phòng chống tội phạm tài chính và phát triển các thị trường vốn.

Một trong những điều kiện quan trọng để các sản phẩm tài chính mới hình thành là khung pháp lý. Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội cùng các nghị định hướng dẫn đã tạo cơ sở cho nhiều cơ chế đặc thù liên quan đến ngoại hối, ngân hàng, thuế, nhân lực, thị thực, ngôn ngữ, lựa chọn pháp luật, sàn giao dịch, fintech, tài sản số, kế toán và giải quyết tranh chấp.

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với fintech, các chính sách liên quan đến nền tảng và sàn giao dịch chuyên biệt cùng những ưu đãi về thuế, nhân lực và đầu tư tạo dư địa để VIFC-DN thử nghiệm các mô hình mới.

Tuy nhiên, lợi thế về thể chế chỉ phát huy hiệu quả khi được chuyển thành sản phẩm, giao dịch và dòng vốn thực tế. Đây cũng là khoảng cách mà một trung tâm tài chính mới cần từng bước thu hẹp nếu muốn cải thiện thứ hạng và vị thế trên thị trường quốc tế.

Vị trí 71/117 tại GFCI 40 vì vậy có thể được xem là điểm khởi đầu hơn là đích đến. Thách thức phía trước của VIFC-DN là chứng minh khả năng thu hút các định chế tài chính, nhà đầu tư và doanh nghiệp quốc tế, đồng thời hình thành những sản phẩm có thị trường, có giao dịch và có khả năng mở rộng.

Nếu làm được điều đó, lợi thế của Đà Nẵng sẽ không nằm ở cạnh tranh trực diện về quy mô với các trung tâm tài chính lớn, mà ở khả năng tạo dựng một hệ sinh thái tài chính chuyên biệt, gắn công nghệ với các lĩnh vực tăng trưởng mới, kết nối nguồn vốn quốc tế với các dự án, doanh nghiệp của Đà Nẵng, miền Trung và Việt Nam.

Thứ hạng đầu tiên trên GFCI vì thế vừa là sự ghi nhận bước đầu, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng vận hành. Năng lực công nghệ, nguồn nhân lực, sản phẩm tài chính và hiệu quả của cơ chế chính sách sẽ quyết định VIFC-DN có thể chuyển vị trí trên bảng xếp hạng thành năng lực cạnh tranh thực chất đến đâu.

Bùi Quốc Dũng