Trong xu hướng phát triển nông nghiệp năm 2026, việc chuyển dịch tư duy từ sản xuất đơn thuần sang làm kinh tế nông nghiệp đang trở thành định hướng cốt lõi của nhiều địa phương. Phú Thọ hiện là một trong những trung tâm sản xuất chè lớn của cả nước với tổng diện tích canh tác khoảng 14,5 nghìn ha, xếp thứ 4 toàn quốc. Hiệu suất khai thác của tỉnh đạt mức cao khi sản lượng chè búp tươi năm 2025 đạt trên 193 nghìn tấn, đứng thứ 2 cả nước, mang lại giá trị sản xuất khoảng 735 tỷ đồng.
Vùng trồng tập trung của địa phương phân bổ trên địa bàn 58 xã, trong đó có hơn 4.000 ha đã được cấp 162 mã số vùng trồng nội địa. Hệ thống vận hành ngành chè quy tụ 76 doanh nghiệp chế biến, 12 làng nghề và 15 hợp tác xã, từng bước xây dựng được 49 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP từ 3 đến 5 sao. Một số vùng nguyên liệu tiêu biểu như Long Cốc, Minh Đài, Xuân Sơn không chỉ đóng vai trò sản xuất mà còn trở thành điểm đến thu hút hoạt động du lịch sinh thái và trải nghiệm.
Mặc dù sở hữu những thông số ấn tượng về quy mô và sản lượng, giá trị kinh tế thu về từ cây chè hiện mới chỉ chiếm gần 5% tổng giá trị ngành trồng trọt của tỉnh, chưa tương xứng với tiềm năng quỹ đất. Thống kê thương mại cho thấy, giá chè xuất khẩu bình quân của Phú Thọ hiện chỉ bằng khoảng 60% so với mức bình quân thế giới. Nút thắt lớn nhất nằm ở chất lượng nguồn phôi khi một phần lớn diện tích giống chè Trung Du trồng bằng hạt đã có tuổi thọ trên 30 năm, trong đó khoảng 2.500 ha đang trong tình trạng già cỗi, làm suy giảm năng suất và hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, mức độ nhận diện thương hiệu của chè Phú Thọ đối với người tiêu dùng trong và ngoài nước vẫn còn hạn chế so với một số vùng trà đặc sản lân cận. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ phương thức canh tác còn nhỏ lẻ, mối liên kết chuỗi chưa bền vững, thiếu công nghệ chế biến sâu và cơ cấu sản phẩm chưa đa dạng khi chè đen xuất thô vẫn chiếm tới 70% tổng sản lượng.
Dù đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp nhãn hiệu chứng nhận "Chè Phú Thọ" từ năm 2020 và triển khai quyền sử dụng cho 15 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, công cụ này hiện chủ yếu phục vụ công tác quản lý nguồn gốc xuất xứ hơn là khai thác khía cạnh quảng bá thương mại. Các dòng sản phẩm thành phẩm xuất khẩu phần lớn vẫn mang tên riêng của từng doanh nghiệp nên độ nhận diện chung của thương hiệu địa phương trên thị trường quốc tế chưa cao. Ngoài ra, nguồn tài nguyên quý giá là diện tích chè Shan tuyết cổ thụ tại các xã vùng cao như Pà Cò, Xuân Đài vẫn chưa được quy hoạch, đặt tên và khai thác một cách phù hợp. Chuỗi vận hành của ngành chè Phú Thọ nhìn chung vẫn phát triển theo mô hình tuyến tính truyền thống là sản xuất, chế biến thô rồi tiêu thụ, chưa tận dụng tối đa các giá trị gia tăng khác từ cây chè.
Trước thực tế đó, việc xây dựng và định vị thương hiệu "Chè Đất Tổ" được đánh giá là bước đi chiến lược mang lại nhiều ý nghĩa. Một thương hiệu mạnh, gắn liền với chỉ dẫn địa lý và các giá trị văn hóa vùng miền sẽ là cơ sở pháp lý giúp chè Phú Thọ dịch chuyển từ phân khúc xuất khẩu nguyên liệu thô giá rẻ sang tiếp cận các phân khúc thị trường cao cấp. Đây cũng là điều kiện cần để đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhằm thâm nhập chính ngạch vào các thị trường khó tính như Nhật Bản hay EU. Việc ký kết hợp tác giữa chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lớn nhằm nâng cấp vùng nguyên liệu tập trung gần 4,5 nghìn ha thành trung tâm chế biến tinh, đóng gói hiện đại được kỳ vọng sẽ tạo ra bước đột phá cho năng lực xuất khẩu của toàn ngành.
Định hướng phát triển của ngành chè Phú Thọ trong giai đoạn mới không chỉ dừng lại ở quy trình sản xuất khô truyền thống mà hướng tới xây dựng một "Hệ sinh thái trà Đất Tổ" toàn diện. Theo chiến lược này, địa phương tập trung quy hoạch lại các vùng chè đặc sản, bảo tồn nghiêm ngặt diện tích chè Shan tuyết cổ thụ và đẩy mạnh đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm. Bên cạnh các dòng chè cánh truyền thống, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ để chế biến sâu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như trà túi lọc, trà hòa tan, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm từ trà đang được ưu tiên thúc đẩy nhằm tối ưu hóa giá trị thặng dư trên mỗi đơn vị diện tích.
Song song với việc nâng cấp chất lượng sản phẩm, việc tích hợp nông nghiệp sinh thái với ngành công nghiệp không khói được xem là giải pháp tạo diện mạo mới cho các vùng nông thôn. Dự án phát triển các điểm quảng bá văn hóa trà và xây dựng tuyến du lịch "Con đường trà Đất Tổ" sẽ cho phép du khách trực tiếp tham gia trải nghiệm các công đoạn từ hái chè, chế biến thủ công đến thưởng trà trong không gian bản địa. Mô hình này không chỉ khai thác tốt xu hướng du lịch xanh, du lịch văn hóa đang ngày càng được quan tâm mà còn mở ra kênh tiêu thụ tại chỗ hiệu quả, tạo thêm việc làm và cải thiện thu nhập bền vững cho cộng đồng người dân trồng chè tại địa phương.
Bảo An