Áp lực tiêu chuẩn từ các thị trường nhập khẩu
Trong 7 tháng đầu năm 2026, hoạt động xuất khẩu của tỉnh Phú Thọ ghi nhận sản lượng chè xuất khẩu đạt trên 30.000 tấn, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 31,53 tỷ USD, tăng 39,7% so với cùng kỳ năm trước và hoàn thành 79,8% kế hoạch cả năm. Bên cạnh việc duy trì các thị trường truyền thống như Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Afghanistan, các doanh nghiệp địa phương đang từng bước thâm nhập vào các thị trường có giá trị cao gồm Đức, Pháp, Hà Lan, Anh, Mỹ và Nhật Bản.
Tuy nhiên, việc tiếp cận các thị trường phát triển đòi hỏi sản phẩm phải vượt qua các rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt. Liên minh Châu Âu liên tục siết chặt giới hạn dư lượng tối đa cho phép đối với thuốc bảo vệ thực vật, trong khi Mỹ và Anh yêu cầu cao về điều kiện sản xuất, ghi nhãn và khả năng truy vết nguồn gốc. Ngay cả thị trường Trung Quốc cũng nâng dần các điều kiện kiểm dịch. Thực tế này buộc ngành sản xuất chè phải chuyển dịch từ việc dựa vào sản lượng sang kiểm soát chặt chẽ quy trình canh tác và an toàn thực phẩm.
Kiểm soát chất lượng từ nương đồi đến khâu chế biến
Nhằm đáp ứng yêu cầu của các đối tác nhập khẩu, công tác quản lý chất lượng tại Phú Thọ được thực hiện đồng bộ ngay từ khâu canh tác. Toàn tỉnh hiện duy trì 62 mã số vùng trồng cho hơn 2.000 ha chè phục vụ truy xuất nguồn gốc. Về tiêu chuẩn canh tác, địa phương có 2.140 ha đạt chứng nhận Rainforest Alliance, 322 ha đạt chuẩn VietGAP và 15 ha sản xuất theo hướng hữu cơ, giúp các đơn vị chế biến chủ động kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào.
Sự gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp chế biến và các hộ nông dân tại các vùng chè trọng điểm đang tạo nên những mắt xích vận hành ổn định. Tại xã Chí Tiên, cơ sở chế biến chè với quy mô nhà xưởng 6.000 m2 và năng lực sản xuất hàng nghìn tấn mỗi năm đã liên kết trực tiếp với vùng nguyên liệu hơn 100 ha. Đội ngũ kỹ thuật giám sát sát sao toàn bộ quy trình bón phân, làm cỏ và thời gian cách ly thuốc sinh học của từng hộ dân. Đối với các dòng chè đinh thượng hạng, tỷ lệ lựa chọn nguyên liệu khắt khe đến mức cần từ 7 đến 8 kg búp tươi tuyển chọn mới chế biến được 1 kg chè khô, trong khi các dòng chè túi lọc xuất khẩu được vận hành trên dây chuyền công nghệ nhập khẩu từ Nhật Bản và đặt dưới hệ thống quản lý chất lượng ISO 22000:2018.
Tại xã Thanh Ba, mô hình liên kết sản xuất với quy mô khoảng 320 ha quy tụ hơn 300 hộ nông dân đã cho phép doanh nghiệp duy trì công suất chế biến trên 1.000 tấn sản phẩm mỗi năm. Nhờ kiểm soát tốt quy trình từ đồng ruộng, đơn vị này không chỉ cung cấp ổn định các đơn hàng chè đen, chè xanh xuất khẩu mà còn phát triển thành công dòng chè búp tím đạt chứng nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia. Thực tiễn từ các chuỗi liên kết cho thấy việc đầu tư công nghệ máy móc hiện đại chỉ thực sự phát huy giá trị khi chất lượng búp chè đầu vào đạt độ đồng đều cao, và ngược lại, vùng nguyên liệu chuẩn chỉ có thể sinh lời tối đa khi được hỗ trợ bởi quy trình chế biến khép kín và bao bì đóng gói chuẩn mực.
Đẩy mạnh chế biến sâu và mục tiêu phát triển đến năm 2030
Bên cạnh chè đen sơ chế thô, Phú Thọ đang khuyến khích các đơn vị sản xuất chuyển hướng sang các dòng sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao hơn như chè ô long, matcha, chè túi lọc, chè hòa tan và trà đóng chai. Song song đó, các vùng chè cảnh quan như đồi chè Long Cốc cũng được khai thác kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp an toàn với du lịch sinh thái, góp phần quảng bá thương hiệu nông sản địa phương.
Đến năm 2030, tỉnh Phú Thọ đặt mục tiêu duy trì ổn định diện tích chè khoảng 14.000 ha với sản lượng búp tươi đạt khoảng 190.000 tấn/năm. Định hướng phát triển tập trung vào chiều sâu chất lượng với mục tiêu 85% diện tích áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp IPHM, 80% diện tích đạt các tiêu chuẩn sản xuất an toàn và trên 70% diện tích vùng trồng tập trung được quản lý bằng mã số số hóa. Việc chuẩn hóa chuỗi giá trị từ nương đồi đến thành phẩm sẽ là nền tảng để chè Phú Thọ giữ vững thị phần và mở rộng xuất khẩu bền vững.
Bảo An