TS Hà Khắc Minh,Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp phát biểu khai mạc sự kiện.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc dưới tác động của địa chính trị, chính sách thương mại, công nghệ và xu hướng xanh hóa. Quá trình này mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút đầu tư, mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế.
Phát biểu khai mạc, TS. Hà Khắc Minh, Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp, cho biết chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục có những điều chỉnh mạnh, trong đó các yêu cầu về công nghệ, phát triển xanh và tiêu chuẩn quốc tế ngày càng tác động rõ nét đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Theo TS. Nguyễn Anh Dương, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tích cực trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Năm 2025, Singapore dẫn đầu với 6,98 tỷ USD, tiếp đến là Trung Quốc với 5,19 tỷ USD và Hàn Quốc với 4,2 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các đối tác đầu tư chủ yếu gồm Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Trung Quốc và Nhật Bản.
“Dòng vốn FDI, đặc biệt từ khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, giúp Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, cải thiện liên kết kinh tế và thực hiện các FTA hiệu quả hơn”, ông Dương cho hay.
Diễn đàn tạo không gian trao đổi, kết nối và đối thoại giữa cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, hiệp hội, cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia và các cơ sở nghiên cứu.
Bên cạnh dòng vốn đầu tư, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng còn tạo cơ hội phát triển logistics, kết nối các hành lang kinh tế, thúc đẩy thương mại không giấy tờ và mở rộng kết nối số trong khu vực. Tuy nhiên, thu hút FDI và tăng trưởng xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam tự động nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Số liệu được TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, đưa ra cho thấy, giai đoạn 2021-2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng từ 336,25 tỷ USD lên 475,04 tỷ USD. Tuy nhiên, năm 2025, khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực FDI chiếm 77,3%.
Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023. Khoảng cách giữa mức độ hội nhập của nền kinh tế và năng lực tham gia trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam vì vậy vẫn là vấn đề cần được quan tâm.
Từ góc độ công nghiệp, ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương, cho rằng cần chú trọng phần giá trị được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế Việt Nam. Khu vực FDI hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp trong nước chủ yếu tập trung ở những ngành có giá trị gia tăng chưa cao như may mặc, thủy sản, nông sản và thép. Trong lĩnh vực điện tử, linh kiện điện tử, khu vực FDI vẫn giữ vai trò chủ đạo.
Thực tế này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa để có thể tiếp nhận đơn hàng, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Các chuyên gia cũng lưu ý, yêu cầu đối với nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng mở rộng. Bên cạnh chất lượng, giá thành, quy mô và độ tin cậy giao hàng, doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn về nguồn gốc nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu, phát thải carbon, sử dụng năng lượng, môi trường, lao động và quản trị rủi ro.
Một điểm nghẽn khác là sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chưa tương xứng. Theo TS. Nguyễn Anh Dương, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp nội địa là cần thiết nhưng chưa đủ. Việt Nam cần đồng thời phát triển công nghiệp hỗ trợ, logistics, hạ tầng số và năng lượng; tăng cường quản lý rủi ro về xuất xứ hàng hóa, phòng vệ thương mại; đa dạng hóa thị trường và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Quang cảnh diễn đàn.
Trong bối cảnh đó, công nghiệp hỗ trợ được xác định là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam từng bước nâng vị trí trong chuỗi cung ứng. Theo ông Phạm Văn Quân, Việt Nam cần chuyển dần từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào gia công, lắp ráp sang phát triển năng lực sản xuất trong nước. Nâng tỷ lệ nội địa hóa sẽ giúp doanh nghiệp tăng khả năng cung ứng linh kiện, nguyên vật liệu, sản phẩm đầu vào và tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Ở góc độ chính sách, bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, cho rằng cần chuyển trọng tâm từ “thu hút đầu tư vào Việt Nam” sang “nâng cấp năng lực của doanh nghiệp Việt Nam để trở thành một mắt xích có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu”.
Theo bà Hải, chính sách thuế cần tạo động lực để doanh nghiệp thay đổi mô hình tăng trưởng, gắn đầu tư công nghệ, R&D, phát triển nhân lực với năng lực sản xuất, chuỗi cung ứng và thị trường toàn cầu. Việc thiết kế ưu đãi cũng cần hướng tới hiệu quả thực chất, tránh tình trạng doanh nghiệp chủ yếu lựa chọn địa điểm để hưởng ưu đãi nhưng năng lực công nghệ, R&D, năng suất hay nội địa hóa không được cải thiện tương xứng.
Từ thực tế trên, hỗ trợ doanh nghiệp cần tập trung vào những năng lực còn thiếu và điểm nghẽn cụ thể, qua đó giúp doanh nghiệp không chỉ gia nhập mà còn duy trì và từng bước nâng cấp vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cùng với năng lực sản xuất và quản trị, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cần được thúc đẩy trong sản xuất công nghiệp. Đây vừa là yêu cầu để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế, vừa là cơ hội để doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Về lâu dài, Việt Nam cần tiếp tục cải cách thể chế, hoàn thiện chính sách, phát triển logistics và công nghiệp hỗ trợ, tăng cường phòng vệ thương mại, đa dạng hóa thị trường, đồng thời xây dựng hệ sinh thái sản xuất có khả năng chống chịu cao. Qua đó, doanh nghiệp Việt Nam có thêm điều kiện nâng cao năng lực, tăng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
PV