Cuộc đua tăng trưởng tín dụng và áp lực duy trì lợi nhuận của các ngân hàng

Tín dụng toàn hệ thống tăng gần 12% từ đầu năm, đưa mục tiêu tăng trưởng 15% tiến gần hơn, trong khi yêu cầu điều hành lãi suất theo hướng hài hòa cả huy động và cho vay tiếp tục đặt ra nhiều thách thức. Bức tranh kinh doanh quý III cho thấy lợi nhuận ngành ngân hàng vẫn duy trì đà tăng, song sự khác biệt về kết quả và năng lực tăng trưởng giữa các nhà băng ngày càng thể hiện rõ.

Đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh theo diễn biến thực tế. Hạn mức được phân bổ dựa trên kết quả chấm điểm, xếp hạng các tổ chức tín dụng năm 2024, nhân với một hệ số áp dụng chung. Cách phân bổ này gắn room tín dụng với năng lực quản trị, mức an toàn và chất lượng tín dụng của từng ngân hàng.

Nhịp tăng trong chín tháng đầu năm khá nhanh. Đến ngày 14/10, dư nợ tín dụng đạt 20,72 triệu tỷ đồng, tăng 11,44% so với cuối năm 2025 và tăng 16,73% so với cùng kỳ. Con số này thấp hơn mức 11,59% công bố tính đến 30/9, tức tốc độ tăng từ đầu năm giảm khoảng 0,15 điểm phần trăm chỉ trong nửa đầu tháng 10. Theo số liệu NHNN công bố tại diễn đàn của VCCI ngày 30/10, tăng trưởng tín dụng đã tiến gần 12%, cao hơn tốc độ huy động vốn, trong khi lãi suất cho vay mới vẫn cao hơn cuối năm 2025. Cũng theo cơ quan này, lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới đến ngày 10/10 là 9,07%/năm.

Cuộc đua tăng trưởng tín dụng và áp lực duy trì lợi nhuận của các ngân hàng
Cuộc đua tăng trưởng tín dụng và áp lực duy trì lợi nhuận của các ngân hàng

Nếu lấy mức gần 12% làm mốc, khoảng cách tới mục tiêu 15% còn khoảng 3 điểm phần trăm cho hơn hai tháng cuối năm. Việc tín dụng nhích lùi ngắn hạn trong nửa đầu tháng 10 cho thấy tiến độ này không đồng đều giữa các ngân hàng. Một số ngân hàng đã sử dụng gần hết hạn mức được giao, một số khác còn dư địa nhưng đối mặt chi phí huy động cao hơn.

Tăng trưởng tín dụng năm nay diễn ra song song với yêu cầu giảm lãi suất. Trong cuộc họp ngày 19/10, Thống đốc nhấn mạnh việc giảm lãi suất không thực hiện cào bằng mà phải chọn đúng đối tượng, áp dụng cho cả dư nợ hiện hữu lẫn khoản vay mới, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và không hạ chuẩn cho vay để chạy theo quy mô. Với lãi suất cho vay, các ngân hàng phải triển khai giải pháp giảm 1,5–2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.

Ở đầu vào, các ngân hàng cũng được yêu cầu hạ lãi suất huy động. Tính đến đầu tháng 11, khoảng 30 ngân hàng thương mại đã công bố giảm lãi suất huy động, mức giảm phổ biến là 0,5 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Như vậy, các ngân hàng đang phải thực hiện cùng lúc ba việc: hạ lãi suất đầu vào, hạ lãi suất đầu ra đối với nhóm ưu tiên, và giữ nhịp tăng dư nợ theo hạn mức. Đây là điểm cốt lõi của bài toán biên lãi thuần (NIM) trong những tháng cuối năm.

Báo cáo tài chính quý III của 27 ngân hàng cho thấy lợi nhuận toàn ngành tiếp tục tăng, song mức độ phân hóa giữa các nhà băng ngày càng rõ nét. Về quy mô, Vietcombank đứng đầu với 40.440 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế 9 tháng, tăng 22,1%; VietinBank đạt 39.557 tỷ đồng, tăng 33,9%; MB đạt 30.518 tỷ đồng, tăng 31,9%; VPBank 29.911 tỷ đồng, tăng 46,7%; BIDV 29.484 tỷ đồng, tăng 24,8%; Techcombank 28.915 tỷ đồng, tăng 23,7%.

Nhìn riêng quý III, bức tranh có những điểm khác biệt. Lợi nhuận trước thuế quý III của Vietcombank đạt 11.218 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,2% so với cùng kỳ, dù thu nhập lãi thuần quý này tăng 39%. Nguyên nhân nằm ở chi phí dự phòng: riêng quý III, Vietcombank trích lập gần 6.200 tỷ đồng, gấp 8 lần cùng kỳ; lũy kế 9 tháng chi phí dự phòng lên gần 9.200 tỷ đồng, gấp gần 4 lần. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng này tăng từ 0,58% lên 0,71%. Ở chiều ngược lại, BIDV có lợi nhuận trước thuế quý III đạt 10.579 tỷ đồng, tăng 39,3%, với thu nhập lãi thuần tăng 12,4% và chi phí dự phòng giảm 25% xuống 4.640 tỷ đồng.

Hai ví dụ trên cho thấy cùng một thang đo lợi nhuận có thể phản ánh những cơ cấu khác nhau: nơi lợi nhuận được duy trì nhờ thu nhập lãi thuần, nơi bị kìm lại bởi dự phòng, nơi được hỗ trợ bởi việc giảm trích lập.

Áp lực chi phí vốn thể hiện rõ ở nhiều ngân hàng. Tại VietinBank, thu nhập lãi thuần 9 tháng đạt 61.931 tỷ đồng, tăng 27,7%, trong khi chi phí trả lãi tiền gửi tăng 47,8%, lên 68.889 tỷ đồng. Tốc độ tăng chi phí lãi nhanh hơn thu nhập lãi thuần cho thấy chi phí huy động đã thành biến số đáng theo dõi trong kết quả kinh doanh.

Nhóm ngân hàng tăng tốc mạnh về quy mô cho thấy áp lực này rõ hơn. Tại NCB, cho vay khách hàng tăng 54,4%, lợi nhuận trước thuế 9 tháng tăng 140,6%, nhưng chi phí lãi tăng 79,4%, lên 8.143 tỷ đồng, trong đó chi trả lãi tiền gửi chiếm hơn 93%. Tại Sacombank, thu nhập lãi thuần quý III giảm 33,6% do chi phí lãi tăng 64,8%, trong khi lãi từ dịch vụ tăng hơn 6 lần. Eximbank cũng ghi nhận chi phí lãi tăng 42,8% trong quý III, khiến thu nhập lãi thuần giảm 25,6%.

Trước áp lực đó, thu nhập ngoài lãi nổi lên như một trụ đỡ. Techcombank cho biết thu nhập dịch vụ 9 tháng tăng 40%, nâng tỷ trọng trong tổng thu nhập từ 21,9% lên 26,2%. Tại LPBank, thu nhập lãi thuần quý III giảm 7,4% nhưng lãi dịch vụ tăng gần 4 lần, giúp lợi nhuận trước thuế quý tăng 29%. Tuy nhiên, thu nhập ngoài lãi cũng biến động theo chu kỳ: BIDV ghi nhận lãi ngoại hối 9 tháng giảm 38,6% và chứng khoán kinh doanh giảm 31,2%.

Khi tín dụng tăng nhanh, các chỉ số chất lượng tài sản được theo dõi sát hơn. Theo báo cáo của các ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu cuối tháng 9 có diễn biến khác nhau: tại MB tăng từ 1,29% lên khoảng 1,67% với tỷ lệ bao phủ gần 85%; tại BIDV tăng từ 2,69% lên 2,89% với tỷ lệ bao phủ khoảng 73%; tại Techcombank ở mức 1,36% với tỷ lệ bao phủ 107%; tại VietinBank tỷ lệ bao phủ khoảng 160%. Tại Sacombank, tỷ lệ nợ xấu tăng từ 6,41% lên 7,33% và tỷ lệ bao phủ giảm còn gần 35%.

Một xu hướng cần theo dõi là nợ nhóm 2, chỉ báo sớm của nợ xấu tương lai. Tại VietBank, nợ xấu giảm 12,8% nhưng nợ nhóm 2 tăng 89,7%, lên 2.061 tỷ đồng. Tại Eximbank, tỷ lệ nợ xấu giảm từ 2,86% xuống 2,62% nhưng nợ nhóm 2 tăng hơn 110%, lên 4.613,6 tỷ đồng. Trong bối cảnh lãi suất cho vay đang được yêu cầu giảm, chất lượng nợ ở nhóm 2 và chi phí dự phòng là hai dòng cần đọc cùng nhau với NIM.

Hoàng Nguyễn