Quảng Ninh đánh thức tiềm năng làng nghề, kết nối văn hóa với du lịch

Từ gìn giữ bản sắc văn hóa đến tạo động lực phát triển kinh tế nông thôn, các làng nghề truyền thống đang mở ra hướng khai thác mới trong phát triển du lịch và nâng cao sinh kế cho người dân. Với lợi thế về tài nguyên, văn hóa và tiềm năng du lịch, Quảng Ninh định hướng kết nối giá trị làng nghề với các sản phẩm du lịch đặc trưng, từng bước hình thành không gian trải nghiệm mang dấu ấn địa phương. Xung quanh định hướng này, phóng viên Tạp chí Kinh tế và Đồ uống đã có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Minh Sơn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Quảng Ninh.

Đồng chí Nguyễn Minh Sơn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Quảng Ninh, trao đổi với phóng viên về định hướng bảo tồn, phát huy giá trị làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch địa phương.
Đồng chí Nguyễn Minh Sơn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Quảng Ninh, trao đổi với phóng viên về định hướng bảo tồn, phát huy giá trị làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch địa phương.

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, thực trạng các làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn Quảng Ninh hiện nay ra sao? Đâu là những vấn đề cần quan tâm trong duy trì, phát triển nghề và nâng cao đóng góp kinh tế cho người dân?

Đồng chí Nguyễn Minh Sơn: Qua rà soát, đánh giá cho thấy, ngành nghề nông thôn trên địa bàn Quảng Ninh khá đa dạng, gắn với điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa và đặc điểm sản xuất của từng địa phương. Các ngành nghề này không chỉ góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập mà còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, mức độ phát triển giữa các ngành nghề và địa phương chưa đồng đều; bên cạnh những nghề có tiềm năng sản xuất hàng hóa, một số nghề truyền thống vẫn gặp khó khăn trong duy trì và phát triển.

Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 3 nghề truyền thống, 2 làng nghề truyền thống và 1 làng nghề đã được công nhận, gồm: nghề đóng tàu thuyền vỏ gỗ Đò Chanh, nghề làm bún Hiệp Hòa, nghề làm bánh gio Phong Cốc; làng nghề đóng tàu thuyền vỏ gỗ Cống Mương, làng nghề đan ngư cụ Hưng Học và làng nghề mai cảnh Yên Tử. Đây đều là những nghề gắn bó với hoạt động sản xuất, sinh kế và đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư.

Về quy mô, phần lớn cơ sở ngành nghề nông thôn hoạt động theo mô hình hộ gia đình, sản xuất còn phân tán; liên kết giữa các cơ sở trong tổ chức sản xuất, tiêu thụ và phát triển thị trường chưa đồng đều. Giai đoạn 2018–2025, số doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất và lao động trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn có xu hướng giảm.

Một số nghề như đóng tàu thuyền vỏ gỗ, đan ngư cụ, làm bánh gio còn gặp khó khăn trong duy trì sản xuất, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, yêu cầu quản lý hoạt động khai thác thủy sản cũng tác động đến việc duy trì, phát triển những ngành nghề có liên quan.

Đáng chú ý, việc truyền nghề và phát triển lực lượng lao động kế cận có ý nghĩa quan trọng. Những nghề đòi hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật và bí quyết riêng cần được quan tâm bảo tồn, bởi đây là yếu tố quyết định khả năng duy trì chất lượng sản phẩm và bản sắc nghề truyền thống.

Dù còn những khó khăn, các ngành nghề nông thôn vẫn có nhiều tiềm năng phát triển, nhất là những sản phẩm gắn với lợi thế nguyên liệu và bản sắc địa phương như miến dong Bình Liêu, chè Đường Hoa, củ cải Đầm Hà, dược liệu Ba Chẽ, mai vàng Yên Tử. Nếu được đầu tư nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, những sản phẩm này có thể tạo thêm giá trị thông qua liên kết với du lịch và hoạt động trải nghiệm.

PV: Quảng Ninh có những lợi thế nổi bật nào trong phát triển làng nghề truyền thống? Theo đồng chí, đâu là những khó khăn cần tháo gỡ để các làng nghề phát huy tốt hơn giá trị kinh tế, văn hóa và thương mại?

Đồng chí Nguyễn Minh Sơn: Quảng Ninh có lợi thế nổi bật nhờ sự kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên đa dạng, bản sắc văn hóa phong phú và thị trường du lịch rộng lớn. Từ vùng biển, đảo đến miền núi, trung du, mỗi khu vực đều có những nghề và sản phẩm đặc trưng như chế biến thủy sản, nước mắm truyền thống, miến dong, chè, dược liệu, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đan lát, thêu thổ cẩm và sinh vật cảnh.

Đặc biệt, hệ thống di sản, danh thắng và các tuyến du lịch nổi tiếng tạo điều kiện thuận lợi để kết nối làng nghề với hoạt động tham quan, trải nghiệm văn hóa và tiêu thụ sản phẩm tại chỗ. Đây là cơ sở quan trọng để hình thành những sản phẩm du lịch mang dấu ấn riêng của từng địa phương.

Tuy nhiên, nhiều cơ sở sản xuất còn hạn chế về vốn, công nghệ, khả năng đổi mới mẫu mã, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Hạ tầng phục vụ du lịch tại các làng nghề chưa đồng bộ, nhất là không gian trưng bày, trải nghiệm, bãi đỗ xe, công trình vệ sinh và hệ thống xử lý chất thải. Lực lượng lao động cũng cần được bổ sung kỹ năng dịch vụ, quảng bá sản phẩm và tổ chức hoạt động du lịch cộng đồng.

Để từng bước tháo gỡ những khó khăn này, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung tham mưu, phối hợp triển khai các giải pháp bảo tồn nghề gắn với tổ chức lại sản xuất, phát triển thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm. Trong đó, chú trọng rà soát, hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ công nhận nghề, làng nghề theo quy định; phát triển vùng nguyên liệu ổn định; khuyến khích liên kết giữa hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp; hỗ trợ nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và tham gia Chương trình OCOP.

Cùng với đó, Sở phối hợp với các ngành, địa phương phát triển hạ tầng làng nghề, bảo vệ môi trường, đào tạo nhân lực và từng bước hình thành các điểm tham quan, trải nghiệm phù hợp với điều kiện thực tế. Quan điểm xuyên suốt là phát triển làng nghề không chỉ để duy trì hoạt động sản xuất mà còn phải tạo ra giá trị kinh tế, văn hóa và sinh kế bền vững cho cộng đồng.

PV: Đề án “Phát triển các làng nghề truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch giai đoạn 2026–2030” đặt mục tiêu gắn bảo tồn nghề với phát triển kinh tế địa phương. Quảng Ninh sẽ lựa chọn và xây dựng những mô hình cụ thể nào để du khách có thể trực tiếp trải nghiệm không gian làng nghề, tìm hiểu câu chuyện văn hóa và tham gia vào quá trình sản xuất?

Đồng chí Nguyễn Minh Sơn: Để phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 213/QĐ-UBND ngày 16/01/2026 phê duyệt Đề án phát triển các làng nghề truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch giai đoạn 2026–2030; đồng thời ban hành Kế hoạch số 273/KH-UBND ngày 15/6/2026 để tổ chức triển khai.

Điểm mới của định hướng này là chuyển từ việc chủ yếu sản xuất, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm sang xây dựng không gian làng nghề kết hợp sản xuất, trình diễn, trải nghiệm, tìm hiểu văn hóa và mua sắm. Qua đó, du khách không chỉ được tiếp cận sản phẩm đặc trưng mà còn có cơ hội tìm hiểu lịch sử nghề, gặp gỡ nghệ nhân, trực tiếp tham gia một số công đoạn sản xuất và khám phá đời sống văn hóa của cộng đồng.

Theo Đề án, thành phố định hướng phát triển 13 làng nghề trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch và hình thành ít nhất 3–5 mô hình làng nghề gắn với du lịch văn hóa cộng đồng, có hệ thống dịch vụ và sản phẩm tương đối đồng bộ.

Một số mô hình tiêu biểu được định hướng gồm: Làng nghề trồng và chế biến củ cải Đầm Hà - Quảng Tân: Phát triển trải nghiệm theo mùa vụ, để du khách tham gia thu hoạch, sơ chế, chế biến củ cải và tìm hiểu văn hóa ẩm thực địa phương; Làng nghề miến dong Bình Liêu: Kết hợp tham quan vùng nguyên liệu, tìm hiểu quy trình chế biến, trải nghiệm sản xuất và giới thiệu sản phẩm OCOP; Làng nghề trồng và chế biến chè Đường Hoa: Hình thành không gian trải nghiệm văn hóa trà, tham quan vùng trồng, tìm hiểu quy trình thu hái, chế biến và thưởng thức trà; Làng nghề trồng mai vàng Yên Tử: Kết hợp tham quan vườn mai, tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc, tạo dáng cây cảnh với các hoạt động du lịch văn hóa, tâm linh tại khu vực Ngọa Vân; Làng nghề nước mắm truyền thống Vân Đồn: Phát triển không gian giới thiệu, trưng bày sản phẩm, tìm hiểu quy trình sản xuất và trải nghiệm văn hóa, đời sống cư dân vùng biển đảo.

Bên cạnh đó, Đề án còn định hướng phát triển các mô hình gắn với dược liệu Ba Chẽ, hoa Đồng Chè, cam Vân Đồn, nghề đan lưới Cái Đước, làng chài và du lịch cộng đồng.

Việc lựa chọn mô hình sẽ căn cứ vào điều kiện sản xuất, bản sắc văn hóa, khả năng tiếp cận, mức độ sẵn sàng của cộng đồng và nhu cầu thị trường. Các hoạt động trải nghiệm phải bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường, không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và đời sống người dân.

Chúng tôi xác định sức hấp dẫn của du lịch làng nghề trước hết nằm ở tính chân thực của nghề và câu chuyện văn hóa của người làm nghề. Vì vậy, phát triển du lịch phải song hành với bảo tồn, góp phần duy trì những giá trị truyền thống vốn có.

PV: Trong thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường có định hướng kết nối các làng nghề, sản phẩm làng nghề với tour, tuyến du lịch như thế nào? Liệu có thể hình thành những điểm đến theo hướng “mỗi làng nghề là một trải nghiệm”, kết hợp sản xuất, OCOP, ẩm thực và hoạt động văn hóa nhằm gia tăng giá trị cho du lịch địa phương?

Đồng chí Nguyễn Minh Sơn: Tôi cho rằng xây dựng điểm đến theo hướng “mỗi làng nghề là một trải nghiệm” là hướng đi có tiềm năng, phù hợp với định hướng phát triển du lịch gắn với bảo tồn giá trị văn hóa địa phương. Đây cũng là giải pháp để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, mở rộng không gian trải nghiệm và gia tăng giá trị kinh tế từ các nghề truyền thống.

Điều quan trọng là mỗi điểm đến cần có sản phẩm và hoạt động trải nghiệm riêng, tránh trùng lặp hoặc chỉ dừng lại ở tham quan, mua sắm. Chẳng hạn, du khách đến vùng trồng chè có thể tham gia hái chè, tìm hiểu văn hóa thưởng trà; đến làng nghề miến dong có thể trải nghiệm một số công đoạn chế biến; đến vùng biển, đảo có thể tìm hiểu nghề làm mắm, đan lưới và thưởng thức ẩm thực địa phương.

Để hiện thực hóa định hướng này, thành phố chú trọng xây dựng bộ nhận diện du lịch làng nghề, tăng cường quảng bá trên các nền tảng số, tổ chức khảo sát và kết nối doanh nghiệp lữ hành với cơ sở sản xuất, hợp tác xã, cộng đồng dân cư. Đặc biệt, Kế hoạch số 273/KH-UBND đã xác định nhiệm vụ tổ chức các chương trình khảo sát, kết nối làng nghề với tuyến, điểm du lịch và hoạt động xúc tiến du lịch.

Theo mục tiêu của Đề án, lượng khách tham quan làng nghề truyền thống phấn đấu tăng ít nhất 10–15% mỗi năm. Để đạt được mục tiêu này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân trong quá trình tổ chức thực hiện.

Về lâu dài, chúng tôi kỳ vọng mỗi làng nghề không chỉ là nơi sản xuất những sản phẩm đặc trưng mà còn trở thành điểm đến văn hóa, nơi du khách có thể trải nghiệm, tìm hiểu, thưởng thức và sử dụng các dịch vụ của cộng đồng. Khi đó, giá trị kinh tế không chỉ đến từ tiêu thụ sản phẩm mà còn được mở rộng thông qua dịch vụ trải nghiệm, ẩm thực, lưu trú và các hoạt động bổ trợ.

PV: Để vừa bảo tồn nghề, nghệ nhân và bản sắc văn hóa, vừa tạo sinh kế bền vững, đưa làng nghề trở thành sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh, Quảng Ninh sẽ ưu tiên những nhiệm vụ, giải pháp nào? Đồng thời, cần có cơ chế ra sao để doanh nghiệp, người dân, nghệ nhân và chính quyền cùng tham gia vào quá trình này?

Đồng chí Nguyễn Minh Sơn: Trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Quảng Ninh tập trung tham mưu, phối hợp triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phát triển làng nghề truyền thống gắn với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và phát triển du lịch bền vững. Trọng tâm là sáu nhóm nhiệm vụ:

Thứ nhất, huy động nguồn lực đầu tư. Lồng ghép hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi, chương trình OCOP, xây dựng nông thôn mới và nguồn lực xã hội hóa để đầu tư, nâng cấp hạ tầng làng nghề, cơ sở sản xuất, không gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm và các điểm du lịch trải nghiệm.

Thứ hai, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tổ chức bồi dưỡng tay nghề, kỹ năng quản lý sản xuất, kinh doanh, thiết kế mẫu mã, chuyển đổi số và nghiệp vụ du lịch cộng đồng. Phát huy vai trò nghệ nhân, thợ giỏi trong truyền nghề, bảo tồn bí quyết truyền thống; đồng thời thu hút thế hệ trẻ tham gia phát triển làng nghề.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế, chính sách và quy hoạch. Rà soát, bổ sung cơ chế hỗ trợ phát triển làng nghề; bố trí quỹ đất phù hợp cho sản xuất, trưng bày sản phẩm và hoạt động du lịch; bảo vệ không gian văn hóa truyền thống, bảo đảm hài hòa giữa sản xuất, bảo tồn và phát triển du lịch.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường. Khuyến khích ứng dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, kết hợp hài hòa với kỹ thuật truyền thống; tăng cường thu gom, xử lý chất thải, nước thải, tái sử dụng phụ phẩm, phát triển mô hình làng nghề xanh, thân thiện với môi trường.

Thứ năm, ổn định nguồn nguyên liệu và tổ chức sản xuất. Quy hoạch vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc; củng cố hợp tác xã, tổ hợp tác và liên kết giữa hộ sản xuất, doanh nghiệp, cơ sở chế biến, đơn vị du lịch, từng bước hình thành chuỗi giá trị từ nguyên liệu đến tiêu thụ.

Thứ sáu, mở rộng thị trường và thúc đẩy chuyển đổi số. Tăng cường xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm OCOP, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử; tổ chức lễ hội, hội chợ, hoạt động trình diễn, trải nghiệm nghề; ứng dụng công nghệ số trong quản lý, quảng bá và kết nối du khách.

Về cơ chế, chính sách, thành phố đang triển khai các quy định của Trung ương, trong đó có Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn; Quyết định số 801/QĐ-TTg năm 2022 về Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021–2030; Quyết định số 1058/QĐ-TTg năm 2023 về Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Ở cấp thành phố, Quyết định số 213/QĐ-UBND ngày 16/01/2026 và Kế hoạch số 273/KH-UBND là cơ sở quan trọng để triển khai Đề án phát triển làng nghề truyền thống thành sản phẩm văn hóa, du lịch. Cùng với đó là các chương trình OCOP, chính sách khuyến khích đầu tư, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ khoa học công nghệ và đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Trong quá trình thực hiện, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị được phân công cụ thể. Sở Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò chủ trì; các sở, ngành liên quan phối hợp; UBND các xã, phường, đặc khu trực tiếp tham gia quy hoạch, bố trí quỹ đất, quản lý không gian làng nghề và lập hồ sơ công nhận. Công tác báo cáo được thực hiện định kỳ hằng năm, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu.

Đối với doanh nghiệp du lịch, thành phố khuyến khích tham gia đầu tư hạ tầng dịch vụ, điểm trưng bày, trải nghiệm, đào tạo và bảo tồn nghề; thúc đẩy liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng dân cư. Đối với người dân, cần tạo điều kiện để được đào tạo kỹ năng du lịch, quản trị, chuyển đổi số, trực tiếp tham gia sản xuất, trình diễn nghề, đón khách và hưởng lợi từ chuỗi giá trị.

Bên cạnh đó, thành phố nghiên cứu hình thành tổ quản lý hoặc hợp tác xã làm đầu mối cho từng làng nghề; xây dựng chính sách ghi nhận, đãi ngộ nghệ nhân và kiến nghị điều chỉnh các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề truyền thống, nghệ nhân cấp thành phố.

Với sự phối hợp của các cấp, ngành cùng sự tham gia chủ động của doanh nghiệp, nghệ nhân và người dân, chúng tôi kỳ vọng các làng nghề truyền thống sẽ tiếp tục được gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa, đồng thời trở thành những sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển bền vững.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

Ngô Anh (thực hiện)