Định hướng phát triển chè hữu cơ và số hóa vùng trồng tại Lai Châu

 Với quy mô hơn 10.500 ha chè và lợi thế từ nguồn gen chè shan tuyết cổ thụ, tỉnh Lai Châu đang triển khai các giải pháp chuyển dần từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu nhằm tối ưu hóa giá trị kinh tế bền vững cho địa phương.

Đặc điểm tự nhiên và quy mô các vùng chuyên canh tập trung

Nằm trong vùng khí hậu đặc trưng của Tây Bắc, tỉnh Lai Châu sở hữu những điều kiện tự nhiên thích hợp cho việc canh tác cây công nghiệp dài ngày, đặc biệt là cây chè. Phần lớn các vùng nguyên liệu của địa phương phân bố ở độ cao từ 900 đến trên 2.500 m so với mực nước biển, nơi có biên độ nhiệt độ ngày - đêm lớn và nền đất có hàm lượng khoáng chất cao từ hệ thống núi thuộc dãy Hoàng Liên Sơn. Điều kiện tiểu khí hậu này giúp búp chè tích lũy tốt các hoạt chất sinh học tự nhiên. Một trong những lợi thế khác biệt của Lai Châu là quần thể hơn 17.000 cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi tại các xã vùng cao như Mồ Sì San, Sìn Hồ, Sì Lở Lầu hay Giang Ma. Nguồn tài nguyên này hiện được xem là nền tảng quan trọng để nghiên cứu, phát triển các dòng sản phẩm trà đặc sản có tính nhận diện cao trên thị trường. 

Định hướng phát triển chè hữu cơ và số hóa vùng trồng tại Lai Châu - Ảnh 1

Song song với việc bảo tồn nguồn chè cổ thụ tự nhiên, các vùng chè hàng hóa tập trung được đầu tư bài bản từ sau năm 2004 cũng đóng vai trò chủ lực trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp địa phương. Qua các chính sách hỗ trợ về giá giống cành mới, phân bón và chuyển giao quy trình kỹ thuật, Lai Châu đã hình thành được hơn 10.500 ha chè, với diện tích đưa vào kinh doanh khai thác đạt trên 8.000 ha.

Trong đó, huyện Tân Uyên là vùng chuyên canh lớn nhất với hơn 3.600 ha, tiếp theo là Bình Lư với gần 2.400 ha, phần còn lại phân bổ tại Phong Thổ, Sìn Hồ và thành phố Lai Châu. Hằng năm, các vùng nguyên liệu này cung ứng khoảng 60.000 tấn chè búp tươi, chế biến ra khoảng 12.500 tấn thành phẩm bao gồm các dòng chè xanh, chè đen và chè ô long. Theo số liệu thống kê, sản lượng dành cho xuất khẩu đạt khoảng 12.440 tấn mỗi năm, cho thấy hoạt động tiêu thụ hiện phụ thuộc chủ yếu vào thị trường quốc tế.

Bài toán biên lợi nhuận xuất khẩu và xu hướng đầu tư chế biến sâu

Mặc dù giữ sản lượng xuất khẩu ở mức cao, ngành chè Lai Châu hiện vẫn đối mặt với thách thức chung về mặt giá trị thặng dư. Phần lớn sản phẩm xuất khẩu hiện nay của tỉnh tồn tại ở dạng nguyên liệu thô hoặc sơ chế, với giá bán bình quân dao động từ 2 đến 3 USD/kg. Việc duy trì phân khúc xuất khẩu thô giá thấp này khiến hiệu quả kinh tế thu về chưa tương xứng với tiềm năng nguyên liệu. Khoảng cách giữa giá trị chè thô và các sản phẩm trà quà tặng, trà thành phẩm phân khúc cao cấp chính là lý do để địa phương thay đổi chiến lược. Những năm gần đây, một số đơn vị sản xuất lớn như Công ty cổ phần chè Than Uyên đã chủ động đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật để chuyển dịch sang phân khúc chế biến sâu, xây dựng thương hiệu trà đặc sản.

Sự có mặt của các dòng sản phẩm như Sencha Tam Đường, Đông Phương Mỹ Nhân, ô long hay Hoàng trà Shan Mồ Sì San bước đầu định hình lại phân khúc khách hàng của chè Lai Châu. Quy trình sản xuất các sản phẩm này đòi hỏi kiểm soát khắt khe về mặt nông học và sinh thái; chẳng hạn trà Đông Phương Mỹ Nhân khai thác đặc tính tự nhiên từ những búp chè có sự tác động của rầy xanh để tạo hương mật ong, hay Hoàng trà Shan được thu hái hoàn toàn thủ công từ vùng nguyên liệu cổ thụ độ cao trên 2.000 m. Tính đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được 27 sản phẩm chè đạt chứng nhận OCOP từ 3 sao trở lên. Bên cạnh đó, các nhãn hiệu chứng nhận chè Tân Uyên và chè Tam Đường đã được bảo hộ pháp lý, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Định hướng phát triển chè hữu cơ và số hóa vùng trồng tại Lai Châu - Ảnh 2

Chiến lược kinh tế xanh 2030 và giải pháp số hóa quản lý vùng trồng

Theo đánh giá từ Hiệp hội Chè Việt Nam, để tối ưu hóa giá trị kinh tế, Lai Châu cần tập trung quy hoạch các vùng sản xuất tập trung gắn liền với công tác bảo tồn nguồn gen chè cổ thụ, đồng thời nghiên cứu tích hợp các mô hình du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm. Định hướng này có nhiều điều kiện thuận lợi khi địa phương thực hiện mô hình quản trị chính quyền hai cấp, giúp các xã mới có quy mô diện tích lớn hơn dễ dàng quy hoạch đồng bộ các vùng nguyên liệu lớn và thu hút doanh nghiệp vào xây dựng chuỗi liên kết bao tiêu ổn định. 

Mục tiêu trên đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết phát triển nông nghiệp hàng hóa, dược liệu theo hướng kinh tế xanh giai đoạn 2026 - 2030 của tỉnh Lai Châu. Theo đó, tỉnh định hướng đầu tư thâm canh, nâng cao chất lượng trên diện tích 10.000 ha chè hiện có, với mục tiêu đưa ít nhất 2.500 ha vào sản xuất theo tiêu chuẩn xanh, hữu cơ và đạt các chứng nhận quốc tế như VietGAP hay RainForest Alliance. Song song đó, việc số hóa quy trình quản lý thông qua hoạt động cấp mã số vùng trồng cho toàn bộ diện tích chuyên canh tập trung là yêu cầu bắt buộc để đáp ứng các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc từ các thị trường nhập khẩu khó tính. Sự chuyển dịch từ tư duy chú trọng sản lượng thô sang tập trung vào chất lượng và chuẩn hóa quy trình là giải pháp căn cơ để bảo vệ môi trường, đồng thời bảo đảm sinh kế và thu nhập ổn định lâu dài cho người dân địa phương.

Bảo An