Với Cảng Cái Mép - Thị Vải, Thành phố đang sở hữu nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại và bền vững. Ảnh ST
Thể chế phải theo kịp thực tiễn phát triển
Trong nhiều năm qua, TP.Hồ Chí Minh luôn là địa phương có nhu cầu tiêu thụ năng lượng cao nhất cả nước, đồng thời cũng là nơi đi đầu trong quá trình chuyển dịch sang các mô hình năng lượng sạch và phát triển hạ tầng hiện đại. Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh cũng làm bộc lộ nhiều khoảng trống về cơ chế, chính sách, khiến không ít dự án phải kéo dài thời gian triển khai.
Thực tế đó được Thành phố chỉ rõ tại buổi làm việc với Đoàn khảo sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội vào ngày 28/7, nhằm phục vụ công tác thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Theo đánh giá của TP.Hồ Chí Minh, hệ thống điện hiện nay cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển khi đến cuối năm 2025 Thành phố có 8 trạm biến áp 500 kV, 30 trạm 220 kV và 159 trạm 110 kV. Hàng trăm dự án ngầm hóa lưới điện đã được hoàn thành, góp phần nâng cao chất lượng cung ứng điện và bảo đảm mỹ quan đô thị. Trong giai đoạn 2026-2030, ngành điện tiếp tục dự kiến đầu tư khoảng 2.500 tỷ đồng để hoàn thiện hạ tầng.
Không chỉ dừng ở việc mở rộng lưới điện, Thành phố còn định hướng trở thành Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia, phát triển đồng bộ các lĩnh vực điện, khí, LNG, lọc hóa dầu và năng lượng tái tạo. Hai dự án điện khí LNG Hiệp Phước và Long Sơn với tổng công suất khoảng 4.200 MW đang được triển khai, trong khi hơn 22.700 hệ thống điện mặt trời mái nhà đã được đưa vào vận hành với tổng công suất gần 1.839 MWp. Bên cạnh đó, nhiều dự án điện gió gần bờ và ngoài khơi tại Cần Giờ, Long Hải và Hồ Tràm cũng đang được nghiên cứu.
Những con số này cho thấy tiềm năng phát triển rất lớn, song cũng phản ánh áp lực ngày càng gia tăng đối với hệ thống điện. Theo dự báo, điện thương phẩm của Thành phố sẽ tăng từ hơn 56 tỷ kWh năm 2025 lên gần 94 tỷ kWh vào năm 2030. Khi các khu công nghiệp, trung tâm dữ liệu, giao thông điện và các đô thị mới phát triển mạnh, yêu cầu bảo đảm nguồn cung ổn định sẽ trở thành một trong những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Điều đáng nói là nhiều mô hình năng lượng mới đã xuất hiện nhanh hơn khả năng điều chỉnh của pháp luật. Các cơ chế về điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ; mua bán điện trực tiếp (DPPA); hệ thống lưu trữ năng lượng; chứng chỉ năng lượng tái tạo hay hạ tầng trạm sạc xe điện vẫn còn thiếu hoặc chưa đồng bộ. Cùng với đó là sự chồng chéo giữa quy hoạch điện với quy hoạch đất đai, xây dựng và đầu tư, khiến quá trình triển khai dự án gặp nhiều trở ngại.
Từ thực tiễn đó, TP.Hồ Chí Minh kiến nghị sửa đổi Luật Điện lực theo hướng tăng cường tính thống nhất giữa các luật, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, mở rộng phân cấp cho địa phương và hoàn thiện cơ chế đối với các loại hình năng lượng mới. Đây không chỉ là giải pháp tháo gỡ khó khăn trước mắt mà còn tạo nền tảng để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
Hoàn thiện hành lang pháp lý cho kinh tế biển xanh
Nếu lĩnh vực điện lực đòi hỏi một tư duy quản trị mới thì việc mở rộng không gian phát triển sau khi TP.Hồ Chí Minh hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới cách tiếp cận trong quản lý tài nguyên biển.
Với cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, đặc khu Côn Đảo cùng vùng ven biển rộng lớn, Thành phố đang sở hữu nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại và bền vững. Tuy nhiên, lợi thế đó chỉ có thể được phát huy khi có một hành lang pháp lý đủ thông thoáng và thống nhất.
Theo UBND TP.Hồ Chí Minh, nhiều chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ, bảo vệ môi trường biển, giảm rác thải nhựa, thích ứng với biến đổi khí hậu và ứng phó sự cố tràn dầu đã được triển khai trong thời gian qua. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy công tác quản lý vẫn còn phân tán, thiếu cơ chế điều phối thống nhất; các hệ sinh thái ven biển tiếp tục chịu áp lực từ ô nhiễm, sạt lở và biến đổi khí hậu.
Một trong những vướng mắc lớn hiện nay là quy định về giao khu vực biển còn chồng chéo với các luật liên quan, kéo dài thời gian thực hiện thủ tục đầu tư. Trong khi đó, các mô hình phát triển mới như kinh tế tuần hoàn biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, logistics quốc tế hay đô thị biển thông minh lại chưa có cơ chế pháp lý đầy đủ để triển khai đồng bộ.
Xuất phát từ thực tiễn này, Thành phố đề nghị bổ sung quy định về sử dụng không gian biển đa mục đích, hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp vùng bờ, tăng cường phân cấp cho địa phương và xây dựng chính sách thúc đẩy kinh tế biển xanh gắn với chuyển đổi số, giảm phát thải carbon.
Qua khảo sát thực tế tại Côn Đảo và khu lấn biển Cần Giờ, Đoàn khảo sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đánh giá cao những kiến nghị xuất phát từ thực tiễn của TP.Hồ Chí Minh. Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tạ Đình Thi, đây là cơ sở quan trọng để cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện các dự án luật theo hướng khả thi hơn, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với các luật liên quan.
Đoàn khảo sát cũng đề nghị Thành phố tiếp tục nghiên cứu các giải pháp phát triển đô thị biển, sử dụng hiệu quả không gian biển đa mục đích, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo tồn thiên nhiên, nhất là đối với Côn Đảo và Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ. Bên cạnh đó, các quy định chuyển tiếp trong dự thảo luật cần được rà soát kỹ lưỡng nhằm hạn chế phát sinh vướng mắc khi đi vào thực tiễn.
Tiếp thu các ý kiến của Đoàn công tác, lãnh đạo UBND TP.Hồ Chí Minh khẳng định sẽ tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành rà soát, bổ sung đầy đủ những vấn đề phát sinh từ thực tiễn quản lý, hoàn thiện các báo cáo phục vụ công tác thẩm tra và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Trung ương trong quá trình hoàn thiện dự thảo luật.
Từ góc nhìn thực tiễn, có thể thấy yêu cầu sửa đổi hai đạo luật lần này không đơn thuần là điều chỉnh các quy định hiện hành, mà là bước đi quan trọng nhằm kiến tạo một khuôn khổ pháp lý đủ linh hoạt để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Khi thể chế được hoàn thiện, những tiềm năng về năng lượng, kinh tế biển và tăng trưởng xanh của TP.Hồ Chí Minh sẽ có thêm điều kiện để chuyển hóa thành động lực phát triển của cả vùng và cả nước.
Bạch Dương – Việt Hùng