Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, 7 tháng đầu năm 2025, nhập khẩu ngô của Việt Nam đạt 5,4 triệu tấn, trị giá trên 1,41 tỷ USD, giảm 4,7% về lượng và 1,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2024.
Riêng tháng 7/2025, lượng nhập khẩu bất ngờ tăng vọt, đạt 1,03 triệu tấn, tương đương 260 triệu USD. So với tháng 7/2024, con số này tăng tới 118% về lượng và 113% về kim ngạch. Diễn biến này cho thấy nhu cầu bổ sung nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước đang ở mức rất cao.
Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế suất nhập khẩu ngô từ 5% xuống 3% nhằm bình ổn giá. (Ảnh: IT)
Argentina tiếp tục là thị trường cung cấp ngô lớn nhất cho Việt Nam, với 2,91 triệu tấn, trị giá 750 triệu USD trong 7 tháng. Dù vẫn chiếm hơn một nửa tổng nhập khẩu, nhưng so với cùng kỳ năm trước, lượng giảm 8,6% và kim ngạch giảm 3%. Brazil đứng thứ hai, với hơn 1,1 triệu tấn, trị giá 277 triệu USD.
Đáng chú ý, Lào bất ngờ lọt vào top 3 thị trường xuất khẩu ngô lớn nhất sang Việt Nam, với 49,5 nghìn tấn, trị giá 11 triệu USD. Giá nhập khẩu bình quân từ Lào chỉ 225,5 USD/tấn, thấp hơn 9,8% so với năm 2024 và cũng là mức thấp nhất trong toàn bộ các thị trường.
Việt Nam nằm trong nhóm 30 quốc gia sản xuất ngô lớn nhất thế giới, song lại đồng thời thuộc top quốc gia nhập khẩu ngô nhiều nhất, chỉ sau Trung Quốc, châu Âu, Mexico, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ai Cập.
Nguyên nhân là ngành thức ăn chăn nuôi công nghiệp tăng trưởng bình quân 13–15%/năm, trong khi nguồn cung nội địa rất hạn chế. Mỗi năm, Việt Nam chỉ sản xuất được khoảng 4 triệu tấn cám và 4 triệu tấn sắn cho chăn nuôi, trong khi nhu cầu lên tới 27 triệu tấn. Như vậy, 70–80% nguyên liệu – chủ yếu là ngô, lúa mỳ, đỗ tương – phải nhập khẩu.
Đáng lo ngại, từ tháng 10/2020 đến nay, giá ngô và lúa mỳ trên thị trường thế giới đã tăng liên tục 30–35%, kéo giá thức ăn chăn nuôi trong nước leo thang, gây áp lực lớn cho cả doanh nghiệp và người chăn nuôi.
Qua rà soát, Bộ Tài chính cho biết mặt hàng ngô hạt (mã HS 1005.90.90) hiện đang chịu thuế suất nhập khẩu MFN 5%. Đây là nguyên liệu chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, vì vậy Bộ đã đề xuất giảm xuống 3%.
Theo Bộ Tài chính, việc hạ thuế suất sẽ: Bình ổn giá ngô nhập khẩu trong bối cảnh thị trường biến động; giảm chi phí đầu vào cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi; hỗ trợ gián tiếp các ngành khác như bánh kẹo, thực phẩm – vốn cũng sử dụng ngô làm nguyên liệu.
Trong bối cảnh chi phí nguyên liệu chiếm tới 80–85% giá thành sản xuất, động thái giảm thuế nhập khẩu ngô được kỳ vọng sẽ trở thành “liều thuốc hạ nhiệt”, giúp giảm áp lực chi phí, hỗ trợ người chăn nuôi duy trì sản xuất và bảo đảm nguồn cung thực phẩm cho thị trường.
Bùi Quốc Dũng