Sau 9 tháng năm 2026, GRDP thành phố Huế tăng 8,72% so với cùng kỳ. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 10,01%, dịch vụ tăng 9,06% và nông nghiệp tăng 4,06%. Dịch vụ chiếm 51,8% cơ cấu kinh tế; công nghiệp - xây dựng chiếm 30% và nông nghiệp chiếm 9,8%.
Những con số này cho thấy nền kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trên cả ba khu vực. Công nghiệp - xây dựng và dịch vụ là hai khu vực đóng góp quan trọng vào mức tăng trưởng chung. Song, khi yêu cầu tăng trưởng đặt ra ở mức cao hơn, vấn đề không còn nằm ở duy trì nhịp tăng của các ngành hiện hữu mà ở khả năng tạo thêm năng lực sản xuất, đưa nguồn lực đầu tư vào nền kinh tế và nâng sức chống chịu của doanh nghiệp.
Không gian đô thị thành phố Huế
Du lịch tiếp tục là một trong những động lực đáng kể của khu vực dịch vụ. Trong 9 tháng, Huế đón hơn 6,4 triệu lượt khách, tăng 29% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch ước đạt 15.400 tỷ đồng, tăng 60%.
Hoạt động thương mại, xuất khẩu cũng duy trì mức tăng khá. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 1.326,6 triệu USD, tăng 19,4%; nhập khẩu đạt 912,9 triệu USD, tăng 2,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng 19,2%. Tổng dư nợ tín dụng tăng 9,8% so với đầu năm.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ tốc độ tăng cao, với chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 11%. Một số sản phẩm chủ yếu tăng khá như xi măng tăng 34,9%, găng tay tăng 19,7%, đồ uống có cồn tăng 17,1% và ô tô tăng 15%.
Nông nghiệp duy trì ổn định. Hai vụ lúa Đông Xuân và Hè Thu có năng suất ước đạt 64,5 tạ/ha, tăng 3,4 tạ/ha. Sản lượng gỗ rừng trồng đạt khoảng 638.000 m³, tăng 7,1%; thủy sản đạt khoảng 58.000 tấn, tăng 3,6%. Toàn thành phố hiện có 117 sản phẩm OCOP.
Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn 9 tháng ước đạt 28.516 tỷ đồng, tăng 12,4%. Thành phố cấp mới 48 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 25.168 tỷ đồng, trong đó có 6 dự án FDI với vốn đăng ký 158,9 triệu USD.
Đây là những nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng. Nhưng vốn đăng ký và số dự án cấp mới mới phản ánh đầu vào. Tác động thực tế phải được nhìn từ khả năng triển khai dự án, đưa vốn vào sản xuất, hình thành sản phẩm, tạo việc làm và phát sinh nguồn thu.
Áp lực này thể hiện khá rõ ở khu vực doanh nghiệp. Trong 9 tháng, Huế thành lập mới 784 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký hơn 11.000 tỷ đồng; 271 doanh nghiệp hoạt động trở lại. Số doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường là tín hiệu tích cực, nhưng chưa đủ để phản ánh đầy đủ sức khỏe của khu vực sản xuất, kinh doanh.
Điều cần theo dõi sâu hơn là khả năng duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất, tạo việc làm và đóng góp ngân sách. Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng cao, hỗ trợ doanh nghiệp cần hướng vào dòng tiền, khả năng tiếp cận vốn, mở rộng thị trường và đầu tư thêm năng lực sản xuất.
Một nguồn lực khác đang được đặt trước yêu cầu phải chuyển hóa nhanh hơn là các dự án tồn đọng. Thành phố đã rà soát 177 dự án có khó khăn, vướng mắc kéo dài. Đến nay, 26 dự án được xử lý hoàn thành, 6 dự án chấm dứt hoạt động. Với 145 dự án còn lại, gồm 50 dự án ngoài ngân sách và 95 dự án trong ngân sách, thành phố đã ban hành kế hoạch tháo gỡ, đạt tỷ lệ 100%.
Việc toàn bộ 145 dự án còn lại đã có phương án xử lý cho thấy các vướng mắc đã được phân loại và xác định hướng giải quyết. Nhưng kế hoạch tháo gỡ chưa đồng nghĩa với dự án đã được triển khai.
Hiệu quả của quá trình này cần được đo bằng những kết quả cụ thể: thủ tục được giải quyết, mặt bằng được bàn giao, dự án được triển khai, vốn được đưa vào thực hiện, sản phẩm được hình thành, việc làm được tạo ra và nguồn thu phát sinh.
Đây là một trong những phép thử quan trọng của quý IV. Nếu phương án xử lý tiếp tục dừng ở khâu thủ tục, tác động đến tăng trưởng sẽ hạn chế. Ngược lại, những dự án đủ điều kiện được chuyển sang triển khai thực tế sẽ giúp đưa nguồn lực đang bị đình trệ trở lại nền kinh tế.
Tiến độ đầu tư công cũng đặt ra yêu cầu tương tự. Đến ngày 1/10/2026, Huế giải ngân 3.159,199 tỷ đồng trong tổng số 6.256,967 tỷ đồng vốn đầu tư công năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao, đạt 50,5%.
Khối lượng vốn còn phải giải ngân trong những tháng cuối năm vẫn lớn. Vì vậy, yêu cầu không chỉ là nâng tỷ lệ giải ngân mà phải xác định rõ nguyên nhân chậm ở từng dự án, từng khâu và trách nhiệm của từng đơn vị.
Một dự án hạ tầng triển khai đúng tiến độ sẽ kéo theo nhu cầu về vật liệu, xây dựng, vận tải, lao động và dịch vụ. Ngược lại, dự án chậm tiến độ đồng nghĩa một phần nguồn vốn chưa được chuyển hóa thành hoạt động kinh tế.
Mục tiêu hoàn thành kế hoạch vốn vì vậy cần đi cùng chất lượng giải ngân. Những dự án vướng giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, vật liệu hoặc năng lực thực hiện cần có phương án xử lý riêng, gắn với thời hạn và trách nhiệm cụ thể.
Thu ngân sách cũng phản ánh phần nào diễn biến của đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong 9 tháng, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 12.354 tỷ đồng, bằng 77,2% dự toán và tăng 16% so với cùng kỳ. Thu nội địa đạt 10.894,7 tỷ đồng, tăng 15,3%. Thu tiền thuê đất, tiền sử dụng đất ước đạt 3.402 tỷ đồng, tăng 28,9%.
Thành phố đặt mục tiêu thu ngân sách cả năm đạt 17.600 tỷ đồng, tăng 10% so với dự toán giao năm 2026. Để hoàn thành mục tiêu này, tiến độ dự án, hoạt động sản xuất, kinh doanh và các nguồn thu từ đất tiếp tục có vai trò quan trọng.
Điều đó cho thấy tháo gỡ dự án, thúc đẩy đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp và tăng thu ngân sách không phải những nhiệm vụ tách rời. Khi dự án chậm, dòng vốn, sản phẩm, việc làm và nguồn thu có thể chậm theo.
Trong những tháng cuối năm, Huế tập trung hỗ trợ doanh nghiệp và dự án đầu tư; đẩy nhanh 13/34 dự án tạo năng lực mới, động lực phát triển; hoàn thiện hạ tầng KCN Gilimex, KCN và khu phi thuế quan Sài Gòn - Chân Mây, KCN La Sơn; đẩy nhanh giải ngân đầu tư công; tháo gỡ dự án tồn đọng; triển khai cơ chế “làn xanh”; rà soát, thu hồi các dự án vi phạm pháp luật về đất đai, đầu tư. Điểm quyết định nằm ở khâu tổ chức thực hiện.
Cải cách hành chính cũng cần được nhìn từ kết quả mà người dân và doanh nghiệp nhận được. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 93,1%, thuộc nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước, cho thấy mức độ số hóa trong giải quyết thủ tục được đẩy mạnh. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng phải thể hiện ở thời gian giải quyết, chi phí tuân thủ và thời gian chuẩn bị, triển khai dự án.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách, phân cấp, phân quyền và bảo đảm vận hành thông suốt mô hình chính quyền địa phương 2 cấp vì vậy vẫn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quý IV.
Sau 9 tháng, Huế có nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực: GRDP tăng 8,72%, du lịch tăng mạnh, công nghiệp duy trì tốc độ cao, xuất khẩu và bán lẻ tăng, đầu tư thực hiện tăng, thu ngân sách tăng.
Ở chiều ngược lại, 145 dự án vẫn phải tiếp tục tháo gỡ, giải ngân đầu tư công mới đạt 50,5%, khu vực doanh nghiệp còn chịu sức ép và một số ngành sản xuất chưa duy trì được mức tăng.
Quý IV vì vậy không đơn thuần là thời gian để giữ các chỉ tiêu đang tăng. Đây là giai đoạn phải chuyển nguồn lực thành kết quả kinh tế thực tế. Các dự án đã có phương án tháo gỡ cần được theo dõi bằng tiến độ thực hiện. Vốn đầu tư công phải được đưa vào công trình, dự án đúng quy định và đúng tiến độ. Doanh nghiệp cần có điều kiện duy trì, mở rộng sản xuất. Các nguồn thu cần được củng cố từ hoạt động kinh tế thực chất.
Mức tăng trưởng 8,72% sau 9 tháng là kết quả tích cực. Nhưng nền tảng cho năm 2027 sẽ được quyết định rõ hơn bởi những gì Huế tạo thêm trong quý IV: năng lực sản xuất mới, dự án thực sự đi vào hoạt động, hạ tầng được hoàn thiện, dòng vốn được đưa vào nền kinh tế và doanh nghiệp có thêm khả năng mở rộng sản xuất.
Bùi Quốc Dũng