Lãi suất tiền gửi tăng trở lại, người vay đối mặt áp lực nào?

Sau nhịp hạ nhiệt hồi giữa năm, mặt bằng lãi suất tiền gửi đang đi lên ở nhiều ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng có phiên tăng vọt và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) khởi động lại chu kỳ tăng lãi suất. Trong bối cảnh ấy, kỳ vọng về một mặt bằng lãi vay nhẹ gánh hơn đang lùi xa; người vay, từ hộ gia đình mua nhà đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, là nhóm cảm nhận rõ nhất sức ép chi phí vốn.

Số liệu khảo sát cuối tháng 9 cho thấy nhịp tăng lãi suất tiền gửi diễn ra không đồng đều nhưng khá rõ. Sacombank nâng biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến ở các kỳ hạn từ 6 đến 36 tháng; với khoản gửi dưới 50 triệu đồng, kỳ hạn 12–18 tháng tăng từ 6,6% lên 7%/năm, còn nhóm gửi từ 500 triệu đồng trở lên lên tới 7,5%/năm.

Điều đáng chú ý hơn là khoảng cách ngày càng lớn giữa biểu niêm yết và mức lãi thực nhận. Cũng theo khảo sát này, gần 10 ngân hàng chào mức 9–9,35%/năm cho khoản gửi vài trăm triệu đồng, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất hệ thống cho khoản gửi dưới 1 tỷ đồng chỉ là 7,9%. Ngân hàng số Cake by VPBank niêm yết 7,2–7,4%/năm nhưng cộng thêm 2,2 điểm phần trăm bằng voucher trong giai đoạn 22/9–31/10, đưa mức cao nhất lên 9,6%/năm. Ở chiều ngược lại, nhóm Big4 giữ mặt bằng thấp hơn, khoảng 6,6%/năm cho kỳ hạn 6–9 tháng và 6,8%/năm cho kỳ hạn 12–18 tháng.

Lãi suất tiền gửi tăng trở lại, người vay đối mặt áp lực nào?
Lãi suất tiền gửi tăng trở lại, người vay đối mặt áp lực nào?

Vì sao lãi suất tiền gửi tăng lên?

Lý do đầu tiên nằm ở cán cân vốn. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối quý II tăng trưởng huy động chỉ hơn 5% so với đầu năm, trong khi tín dụng tăng 7,4%. Khoảng chênh ấy chưa khép lại. Khi tiền cho vay tăng nhanh hơn tiền gửi, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh để giữ nguồn vốn, và điều này, theo TS Nguyễn Văn Lộc (Đại học Phenikaa), tạo ra một mặt sàn cho lãi suất huy động.

Lý do thứ hai là áp lực thanh khoản mang tính thời điểm. Trong phiên 21/9, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm tăng 2,5 điểm phần trăm lên 7%/năm, sau khi từ 14–18/9 Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.500 tỷ đồng qua thị trường mở do lượng vốn đáo hạn vượt lượng cho vay mới. Giới phân tích gắn diễn biến này với giai đoạn cao điểm cuối quý III và nhu cầu vốn lưu động tăng lên trong quý IV.

Lý do thứ ba đến từ bên ngoài và từ giá cả. Ngày 16/9, Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản lên 3,75–4,00%/năm, lần tăng đầu tiên sau ba năm, và thị trường đang kỳ vọng khả năng còn một lần tăng nữa ngay tháng 10. Trong nước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 tăng 0,47% so với tháng trước và 4,89% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá xăng dầu; CPI bình quân tám tháng tăng 4,45%, sát mục tiêu khoảng 4,5% của cả năm. Tỷ giá trung tâm ngày 29/9 ở mức 25.630 đồng/USD. Với mặt bằng ấy, bộ phận phân tích của Techcombank nhận định dư địa để lãi suất huy động giảm sâu không còn nhiều.

Người vay chịu sức ép ở đâu?

Chi phí huy động tăng truyền sang lãi suất cho vay với độ trễ nhưng gần như không tránh khỏi. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân tháng 8 tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng 7, ở vùng 8,4–10,7%/năm tùy nhóm ngân hàng, và cao hơn khoảng 3 điểm so với các khoản giải ngân một năm trước. Lãi suất cho vay ngắn hạn với nhóm lĩnh vực ưu tiên như xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đã ở mức trần 4%/năm theo quy định.

Lãi suất tiền gửi tăng trở lại, người vay đối mặt áp lực nào? - Ảnh 1

Sức ép rõ nhất nằm ở vay mua nhà. Lãi suất ưu đãi tại khoảng mười ngân hàng dao động 8,2–10,5%/năm nhưng thường chỉ áp dụng trong 6–24 tháng; sau đó khoản vay chuyển sang lãi thả nổi bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ khoảng 3,3–3,5 điểm phần trăm, khiến mức lãi thực tế phổ biến 13–15%/năm, có nơi vượt 16%. Với dư nợ 1 tỷ đồng vay trong 20 năm theo phương thức trả góp đều, số tiền phải trả hằng tháng (gồm cả gốc và lãi) tăng từ khoảng 8,7 triệu đồng ở mức lãi 8,5%/năm lên khoảng 11,7 triệu đồng ở mức 13% và 13,2 triệu đồng ở mức 15%, tức chênh khoảng 4,5 triệu đồng mỗi tháng trên mỗi tỷ đồng nợ.

Sức ép ấy đã bắt đầu hiện lên ở chất lượng tài sản và thanh khoản thị trường. Theo VIS Ratings, tỷ lệ nợ quá hạn toàn ngành tăng từ 3,3% cuối năm 2025 lên khoảng 3,8% cuối tháng 6/2026, còn nợ xấu nội bảng toàn hệ thống theo Ngân hàng Nhà nước ở mức 3,43% vào cuối tháng 5. SSI Research từng cảnh báo điểm rơi rủi ro của chương trình ân hạn nợ gốc vay mua nhà nằm ở quý III/2026 và nếu lãi suất tiền gửi duy trì cao, nợ xấu ở phân khúc này có thể hình thành nhanh trong quý III–IV.

Trên thị trường chứng khoán, VN-Index đóng cửa phiên 29/9 ở 1.777,73 điểm, giảm 2,95 điểm; giá trị khớp lệnh trên HOSE đạt gần 12.340 tỷ đồng, giảm khoảng 18% so với phiên trước, còn khối ngoại bán ròng phiên thứ năm liên tiếp trên sàn này. Theo VietnamPlus, trong tuần đầu tiên sau khi FTSE Russell nâng hạng thị trường, chỉ số giảm 1,68%; nếu phiên 30/9 không có biến động lớn, VN-Index nhiều khả năng giảm hơn 50 điểm trong cả tháng. Thanh khoản thấp cho thấy dòng tiền còn thận trọng, trong khi lãi suất tiền gửi cải thiện tạo ra một kênh trú ẩn thay thế; mối liên hệ này cần được tiếp tục theo dõi.

Phần lớn chuyên gia cho rằng kịch bản chủ đạo là lãi suất đi ngang ở mặt bằng cao chứ không phải một chu kỳ tăng mạnh. Theo nhận định, mặt bằng lãi suất đến cuối năm khó giảm đáng kể: khả năng xuất hiện đợt tăng mạnh trên diện rộng không lớn, nhưng dư địa giảm cũng hạn chế. Techcombank giữ dự báo lãi suất huy động chủ yếu đi ngang. Bên cạnh đó, lãi suất có thể tăng cục bộ ở một số ngân hàng, kỳ hạn hoặc nhóm khách hàng, song không nên quá lo ngại về một chu kỳ tăng mạnh.

Từ những diễn biến trên, các chuyên gia tài chính nhận định ba điểm đáng lưu ý. Với người gửi tiền, mức lãi cao thường đi kèm điều kiện như voucher, kỳ hạn tối thiểu, chỉ áp dụng cho khoản gửi mới hoặc kênh trực tuyến; cần kiểm tra trên ứng dụng và hợp đồng chính thức, không cung cấp mã OTP cho người tự xưng là nhân viên ngân hàng. Với người vay, cần tính khả năng trả nợ theo kịch bản lãi thả nổi thay vì mức ưu đãi ban đầu; một số chuyên gia khuyến cáo không vay quá 30–40% giá trị tài sản trong giai đoạn lãi suất biến động. Với cơ quan điều hành, bài toán là cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống.

Lãi suất tiền gửi tăng trở lại không hẳn là tín hiệu tiêu cực nếu nó phản ánh nỗ lực kéo dòng tiền nhàn rỗi quay về hệ thống ngân hàng; vấn đề là mức chi phí tăng thêm ấy được hấp thụ bằng gì. Nếu dòng vốn được hướng vào sản xuất kinh doanh và hạ tầng, nền kinh tế có thể chịu được mặt bằng lãi suất cao hơn; nếu không, gánh nặng sẽ dồn vào những người vay có đòn bẩy lớn và biên an toàn mỏng. Đó là lý do việc điều hành thanh khoản linh hoạt, công khai thông tin lãi suất và bảo vệ người vay sau giai đoạn ưu đãi cần được đặt ngang tầm với mục tiêu tăng trưởng tín dụng.

Hoàng Nguyễn