Phát triển xăng sinh học E10: Cơ hội đa dạng hóa đầu ra cho ngành sắn nội địa

Việc mở rộng lộ trình phối trộn xăng sinh học E10 trên phạm vi toàn quốc đang mở ra hướng đi mới giúp ngành sắn Việt Nam từng bước tự chủ đầu ra tại chỗ, giảm bớt áp lực phụ thuộc lớn vào một thị trường xuất khẩu duy nhất.

Thực trạng ngành xuất khẩu sắn và yêu cầu dịch chuyển thị trường

Trong danh mục các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, sắn và các sản phẩm từ sắn hiện đóng vai trò tương đối lớn trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Số liệu thống kê cho thấy diện tích trồng sắn cả nước đạt khoảng 511.000 ha với tổng sản lượng thu hoạch 10,4 triệu tấn, năng suất bình quân duy trì ở mức 20,4 tấn trên mỗi ha. Trong đó, các địa phương có năng suất cao tiêu biểu là Tây Ninh đạt 33,3 tấn trên mỗi ha và Đồng Nai đạt từ 25 đến 27 tấn trên mỗi ha. Riêng trong năm 2025, hoạt động xuất khẩu sắn đã mang về cho đất nước 1,26 tỉ USD, đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu sắn lớn thứ 3 trên thế giới.

Tuy nhiên, cấu trúc thương mại hiện tại của ngành đang bộc lộ một số rủi ro khi khối lượng xuất khẩu của năm 2025 tăng mạnh hơn 52,2% nhưng tổng trị giá thu về chỉ tăng thêm 9,8%. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng lượng tăng nhưng kim ngạch tăng không tương xứng là do giá thành sản phẩm thô thấp và toàn ngành có tới 94% sản lượng phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu thu mua của một thị trường lớn. Trước áp lực cạnh tranh từ các loại cây trồng khác, diện tích đất trồng sắn có xu hướng bị thu hẹp. Do đó, định hướng đến năm 2030, diện tích sắn được điều chỉnh giảm xuống còn khoảng 480.000 ha nhưng đặt mục tiêu nâng kim ngạch thu về đạt từ 1,8 đến 2 tỉ USD thông qua việc đẩy mạnh chế biến sâu.

Phát triển xăng sinh học E10: Cơ hội đa dạng hóa đầu ra cho ngành sắn nội địa - Ảnh 1

Trong bối cảnh đó, lộ trình thúc đẩy tiêu thụ xăng sinh học E10 được xem là một giải pháp thiết thực, tạo ra dòng chảy tiêu thụ nội địa ổn định cho nguồn nguyên liệu sắn. Tính toán từ Bộ Công thương chỉ ra rằng, khi loại nhiên liệu này được triển khai đồng bộ trên toàn quốc, nhu cầu sử dụng cồn ethanol sẽ dao động từ 92.000 m3 đến 100.000 m3 mỗi tháng. Con số này vượt xa năng lực cung ứng hiện tại của các nhà máy nội địa khi tổng sản lượng trong nước mới đáp ứng được khoảng 25.000 m3 mỗi tháng từ 4 nhà máy đang vận hành tại Đồng Nai, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Kon Tum. Phần thiếu hụt còn lại phải nhập khẩu từ các nguồn cung trên thế giới như Mỹ hay Brazil. Để sản xuất được 100 triệu lít cồn ethanol, các nhà máy cần tiêu thụ khoảng 250.000 tấn sắn lát khô, tương đương với 600.000 tấn củ tươi, cần một vùng nguyên liệu tập trung rộng khoảng 30.000 ha. Việc khôi phục và hoàn thiện kỹ thuật cho các nhà máy đang tái cơ cấu tại Bình Phước và Đắk Nông kỳ vọng sẽ kích hoạt chuỗi liên kết bao tiêu nông sản ổn định, biến nguồn nông sản thô thành nhiên liệu sinh học có giá trị cao hơn.

Kinh nghiệm quốc tế và triển vọng phát triển chuỗi giá trị

Cuộc đua năng lượng sinh học đang được dẫn dắt bởi các quốc gia biết tận dụng tốt lợi thế nông nghiệp nội địa. Mỹ giữ vị trí dẫn đầu với sản lượng khoảng 65 triệu m3 ethanol sử dụng nguyên liệu từ ngô. Đứng ở vị trí thứ 2 là Brazil với sản lượng bằng một nửa của Mỹ nhờ nguồn nguyên liệu từ mía đường. Tiếp theo là Ấn Độ với việc linh hoạt sử dụng ngô, mía và cả các loại gạo phẩm cấp thấp rớt giá làm phôi sản xuất. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp ethanol Ấn Độ phần lớn nhờ tỷ lệ phối trộn xăng ở nước này hiện đạt tới mức E20.

Đây là những mô hình thực tế để Việt Nam nghiên cứu trong việc tự chủ một phần nhu cầu năng lượng và giảm bớt áp lực nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch. Quy trình lên men quy mô công nghiệp không chỉ giúp giải quyết lượng nông sản thặng dư mà còn là công cụ hữu hiệu để tối ưu hóa chuỗi giá trị, tận dụng được các phụ phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ, mùn cưa hoặc rác thải hữu cơ đô thị tại các trung tâm lớn theo nguyên lý của nền kinh tế tuần hoàn.

Không dừng lại ở ranh giới quốc gia, Việt Nam có tiềm năng phát triển ngành công nghiệp ethanol thông qua việc liên kết, tận dụng thế mạnh nguồn nguyên liệu nông nghiệp từ các quốc gia lân cận ở hạ lưu vực sông Mê Kông như Lào và Campuchia. Khi công nghệ chế biến và hệ thống hạ tầng phân phối trong nước được hoàn thiện, các khu vực này có thể vừa là nguồn cung ứng phôi thô, vừa là thị trường tiêu thụ tiềm năng cho các sản phẩm nhiên liệu sinh học. Sự dịch chuyển này mở ra cơ hội để một quốc gia có thế mạnh nông nghiệp từng bước cải thiện vị thế trong lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Đông Nam Á.

Phát triển xăng sinh học E10: Cơ hội đa dạng hóa đầu ra cho ngành sắn nội địa - Ảnh 2

Những thách thức nội tại và giải pháp thu hút đầu tư

Mặc dù triển vọng phát triển tương đối rõ nét, con đường chuyển dịch từ nông nghiệp thô sang năng lượng sinh học của Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản. Lực cản lớn nhất nằm ở thực trạng nền nông nghiệp còn manh mún, quy mô canh tác nhỏ lẻ của các hộ gia đình khiến việc thu gom và chuẩn hóa nguồn nguyên liệu gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó, hệ thống hạ tầng logistics chưa đồng bộ làm đẩy chi phí vận chuyển lên cao, khiến giá thành cồn sinh học sản xuất trong nước khó cạnh tranh sòng phẳng với xăng khoáng truyền thống hoặc cồn nhập khẩu. Ở khâu công nghệ, quy trình lên men công nghiệp hiệu suất cao hiện vẫn phụ thuộc vào các chủng nấm men đặc biệt phải nhập khẩu từ nước ngoài, đây là điểm nghẽn kỹ thuật mà các đơn vị nghiên cứu trong nước chưa thể tự chủ hoàn toàn.

Để tháo gỡ những nút thắt này, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 07 vào cuối tháng 2/2026, giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách phát triển các vùng nguyên liệu chuyên canh phục vụ cho nhiên liệu sinh học, ưu tiên các nhóm cây phi lương thực, phụ phẩm nông nghiệp và mô hình kinh tế tuần hoàn. Trong giai đoạn đầu, thị trường rất cần các chính sách khuyến khích đủ tốt, các gói ưu đãi thuế và đất đai thiết thực để thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư vào hạ tầng chế biến sâu. Khi chuỗi cung ứng được vận hành một cách đồng bộ và có sự kết nối chặt chẽ giữa nhà máy với người nông dân, xăng sinh học E10 sẽ không chỉ đóng góp vào mục tiêu bảo vệ môi trường, mà còn là bệ đỡ giúp nâng cao giá trị và tính chủ động cho ngành nông sản Việt.

Bảo An