Tọa đàm trực tuyến: ‘Tăng tốc năng suất - Bứt phá trong giai đoạn mới’

Chiều 15/01/2026, Tạp chí Chất lượng Việt Nam (VietQ.vn) tổ chức Tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Tăng tốc năng suất - Bứt phá trong giai đoạn mới”, quy tụ các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp nhằm nhận diện động lực mới, giải pháp đột phá giúp nâng cao năng suất, gia tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh chuyển đổi và hội nhập sâu rộng.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, năng suất đã và đang trở thành yếu tố then chốt, quyết định năng lực cạnh tranh và sự tồn tại lâu dài của mỗi doanh nghiệp.

Nhận thức rõ vai trò đó, Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2021-2030 (gọi tắt là Chương trình 1322) đã được triển khai rộng khắp, từng bước khẳng định là một trong những điểm tựa quan trọng đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam trên hành trình nâng cao năng suất, cải tiến chất lượng và hội nhập quốc tế.

Giai đoạn 2021 - 2025, thông qua nhiều chính sách cụ thể, Chương trình 1322 đã lan tỏa mạnh mẽ tại các địa phương trên cả nước, tạo chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động của doanh nghiệp đối với vấn đề năng suất chất lượng.

Sang giai đoạn 2026 - 2030, khi nền kinh tế Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới với những yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả, chất lượng, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, nâng cao năng suất không còn đơn thuần là mục tiêu mà trở thành nhiệm vụ mang tính sống còn đối với doanh nghiệp.

Câu hỏi đặt ra, đâu là những nhiệm vụ chiến lược trọng tâm cần được tăng tốc thực hiện trong thời gian tới? Doanh nghiệp cần làm gì để bứt phá năng suất, nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm hướng đến phát triển bền vững?

Để cùng trao đổi và làm rõ nội dung này, Chất lượng Việt Nam (VietQ.vn) tổ chức chương trình Tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Tăng tốc năng suất - Bứt phá trong giai đoạn mới”.

Tọa đàm trực tuyến: ‘Tăng tốc năng suất - Bứt phá trong giai đoạn mới’ - Ảnh 1

MC: Xin kính chào quý vị khán giả đang theo dõi chương trình tọa đàm của Chất lượng Việt Nam!

Tham dự chương trình toạ đàm hôm nay, tôi xin trân trọng giới thiệu sự tham gia của các vị khách mời:

+ TS. Hoàng Xuân Hiệp - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội;

+ Ông Triệu Ngọc Trung - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh;

+ Ông Hoàng Minh Dũng - Phó Giám đốc Quản lý sản xuất và kỹ thuật, Công ty Nidec Instruments Hà Nội.

Các khách mời tham gia chương trình toạ đàm.
Các khách mời tham gia chương trình toạ đàm.

Các khách mời tham gia chương trình toạ đàm.

Cảm ơn các vị khách mời đã nhận lời tham dự chương trình.

MC: Vâng câu hỏi đầu tiên xin được gửi đến TS. Hoàng Xuân Hiệp - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội.

Thưa ông, với vai trò là chương trình hỗ trợ cụ thể về năng suất chất lượng, ông đánh giá Chương trình 1322 giai đoạn 2021-2025 đã mang lại những kết quả như thế nào cho cộng đồng doanh nghiệp, qua đó đóng góp ra sao cho sự phát triển chung của nền kinh tế?

TS. Hoàng Xuân Hiệp: Thời gian qua, Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2021 - 2030 (Chương trình 1322) đã góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn 2021 - 2025. Đây là giai đoạn đặc biệt khó khăn khi doanh nghiệp đối mặt với nhiều cú sốc lớn, nhất là tác động kéo dài của đại dịch Covid-19, song nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì và từng bước củng cố năng lực cạnh tranh, trong đó có đóng góp đáng kể từ hiệu quả của Chương trình 1322.

Những kết quả này được minh chứng rõ nét qua các số liệu thống kê. Theo Báo cáo sơ kết Chương trình 1322 giai đoạn 2021 - 2025, gần 6.500 doanh nghiệp trên cả nước được tiếp cận các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng. Cùng với đó, chương trình đã đào tạo hơn 170 chuyên gia năng suất, trong đó nhiều chuyên gia đến từ chính doanh nghiệp; gần 90 chuyên gia được cấp chứng chỉ chuyên gia năng suất.

Riêng Trường Đại học Thương mại và Công nghiệp Hà Nội hiện đang triển khai một chương trình nghiên cứu cấp quốc gia thuộc Chương trình 1322, đồng thời đóng góp 29 chuyên gia năng suất.

Có thể khẳng định, cộng đồng doanh nghiệp là đối tượng hưởng lợi trực tiếp và rõ rệt từ Chương trình 1322. Khi doanh nghiệp được nâng cao năng suất, chất lượng, lợi ích không chỉ dừng lại ở từng đơn vị mà còn lan tỏa tới nền kinh tế. Minh chứng là năng suất lao động trong giai đoạn này tăng với tốc độ khoảng 6%; mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đã tăng từ 45,7% giai đoạn 2016–2020 lên khoảng 47% giai đoạn 2021–2025.

Chính sự gia tăng đóng góp của TFP đã góp phần quan trọng giúp kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng ấn tượng 8,02% trong bối cảnh tăng trưởng GDP toàn cầu chỉ ở mức khoảng 2,7–2,8%.

MC: Câu hỏi tiếp theo xin được gửi đến ông Triệu Ngọc Trung - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh, đại diện cho phía địa phương. Thưa ông, ông có thể khái quát kết quả nổi bật trong hoạt động nâng cao năng suất, chất lượng của địa phương mình giai đoạn 2021-2025?

Ông Triệu Ngọc Trung: Giai đoạn 2021-2025, Bắc Giang và Bắc Ninh trước khi sáp nhập đều tập trung nâng cao năng suất, chất lượng thông qua chiến lược phát triển công nghiệp công nghệ cao, đô thị hóa thông minh, chuyển đổi số, cải cách hành chính, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện, xanh, văn minh. Cả hai tỉnh đều nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về tốc độ phát triển nhưng mỗi địa phương lại có những điểm nhấn riêng trong hoạt động nâng cao năng suất, chất lượng.

Trong giai đoạn vừa qua, tỉnh đã ghi dấu ấn là địa phương tiên phong trong việc đưa chương trình năng suất chất lượng vào hệ thống giáo dục. Cụ thể:

Đối với giáo dục phổ thông: Đây là tỉnh đầu tiên trên cả nước triển khai kế hoạch đưa các công cụ năng suất, đặc biệt là mô hình 5S vào giảng dạy ngay từ cấp tiểu học cho đến trung học phổ thông. Sáng kiến này đã nhận được sự đánh giá rất cao từ Hội đồng chất lượng.

Về đào tạo nghề: Nhằm chuẩn bị hành trang cho nguồn nhân lực trước khi gia nhập thị trường lao động, tỉnh đã thí điểm đưa nội dung năng suất chất lượng vào chương trình giảng dạy tại một số trường trung cấp và cao đẳng nghề trên địa bàn. Điều này giúp sinh viên trang bị kiến thức cơ bản và tư duy về năng suất ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Mặt khác, cả hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang trước đây đều chủ động trong công tác tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm hiện thực hóa Chương trình 1322. Các hoạt động hỗ trợ tập trung vào:

• Hướng dẫn và hỗ trợ doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, áp dụng các công cụ cải tiến năng suất vào quy trình sản xuất kinh doanh.

• Khuyến khích doanh nghiệp tham gia các phong trào chất lượng quy mô lớn. Trong giai đoạn này, nhiều doanh nghiệp tại cả hai địa phương đã xuất sắc đạt Giải thưởng Chất lượng Quốc gia. Trong đó, có 03 doanh nghiệp tham dự Giải thưởng Chất lượng Quốc gia: năm 2021 có 01 doanh nghiệp đạt giải, năm 2022 có 01 doanh nghiệp đạt giải vàng; năm 2024 có 01 doanh nghiệp đề xuất Giải vàng Chất lượng Quốc gia.

Việc triển khai hiệu quả chương trình năng suất chất lượng đã tạo ra tác động tích cực, góp phần thúc đẩy Bắc Ninh và Bắc Giang duy trì vị thế là những "thủ phủ" công nghiệp và nằm trong nhóm các tỉnh thành phát triển kinh tế dẫn đầu cả nước.

Ông Triệu Ngọc Trung - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh.
Ông Triệu Ngọc Trung - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh.

MC: Thưa ông Hoàng Minh Dũng, là doanh nghiệp tiên phong trong nâng cao năng suất chất lượng, ông có thể chia sẻ những dấu ấn của doanh nghiệp mình thời gian qua, đặc biệt trong việc áp dụng tiêu chuẩn, công cụ cải tiến để nâng cao năng suất?

Ông Hoàng Minh Dũng: Về mặt quản trị, theo tôi năng suất trước hết phải bắt nguồn từ tốc độ và kỷ luật trong điều hành. Các cuộc họp cần được tổ chức ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề và quan trọng nhất là phải đưa ra được quyết định kịp thời.

Bên cạnh đó, con người phải được đặt ở vị trí trung tâm. Năng suất bền vững không đến từ mệnh lệnh hay ép buộc mà phụ thuộc vào động lực nội tại và khát vọng cải tiến của mỗi cá nhân. Khi mỗi người thực sự muốn làm tốt hơn hôm qua năng suất sẽ tự nhiên được nâng lên.

Về mặt văn hóa, yếu tố then chốt là xây dựng được văn hóa cải tiến liên tục trong toàn doanh nghiệp. Khi có vấn đề phát sinh, từ lãnh đạo đến công nhân cần trực tiếp có mặt tại hiện trường, dựa trên hiện vật và hiện thực để phân tích nguyên nhân và xử lý ngay, thay vì chỉ trao đổi trên giấy tờ hay qua báo cáo. 

Đồng thời, doanh nghiệp cần chuyển mạnh từ cách tiếp cận “trên giao - dưới làm” sang khuyến khích sáng kiến từ cơ sở. Với hàng nghìn lao động, chỉ cần mỗi người đóng góp vài ý tưởng cải tiến mỗi năm thì tổng giá trị mang lại cho năng suất là rất lớn. Mô hình quản trị từ trên xuống (top-down) chỉ nên áp dụng trong những trường hợp cần cải cách lớn hoặc thay đổi mang tính đột phá.

Về mặt hệ thống và chuyển đổi số, tôi cho rằng sự kết hợp giữa sản xuất tinh gọn (Lean) và chuyển đổi số là con đường tất yếu, thậm chí là con đường duy nhất để doanh nghiệp đạt được năng suất vượt trội trong bối cảnh hiện nay. Quá trình này cần được triển khai theo một lộ trình bài bản, bắt đầu từ việc đơn giản hóa và hiển thị hóa mọi hoạt động, bởi phức tạp chính là kẻ thù của năng suất.

Tiếp đó là tiêu chuẩn hóa các quy trình, vì nếu chưa chuẩn hóa thì không thể tự động hóa hay số hóa hiệu quả. Trên nền tảng đó, doanh nghiệp mới tiến hành tự động hóa, sử dụng máy móc để thay thế công việc nặng nhọc, lặp đi lặp lại của con người.

Bước tiếp theo là kết nối hóa thông minh, khi các hệ thống và thiết bị liên thông, vận hành với mức độ can thiệp của con người ngày càng ít. Cuối cùng, mục tiêu cao nhất là tối ưu hóa nhằm đồng thời nâng cao năng suất chất lượng, rút ngắn thời gian sản xuất, đặc biệt là cải thiện trải nghiệm khách hàng.

Việc kiên trì áp dụng lộ trình này không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng và các chuỗi cung ứng hiện đại.

MC: Trong quá trình triển khai Chương trình 1322 tại địa phương, Bắc Ninh đã gặp những tồn tại, khó khăn gì và đặt ra yêu cầu phải đổi mới như thế nào trong giai đoạn 2026-2030, thưa ông Triệu Ngọc Trung?

Ông Triệu Ngọc Trung: Theo tôi, hiện nay khoảng cách giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa vẫn còn rất lớn, thể hiện rõ nhất ở tốc độ triển khai và mức độ sẵn sàng thay đổi. Các doanh nghiệp FDI thường có “bước chạy đà” tốt, khả năng thích nghi nhanh và triển khai các mô hình quản trị, sản xuất mới một cách quyết liệt. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước vẫn gặp nhiều hạn chế về nguồn lực, tư duy và phương pháp, trở thành điểm nghẽn đáng kể đối với nỗ lực nâng cao năng suất tại nhiều địa phương.

Khoảng cách này còn thể hiện rõ ở việc cập nhật và sử dụng các công cụ quản lý hiện đại. Doanh nghiệp FDI liên tục cải tiến hệ thống quản trị, đẩy mạnh chương trình số hóa và coi đây là hoạt động thường xuyên. Ngược lại, với nhiều doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là SME, việc tiếp cận và triển khai các công cụ này vẫn là bài toán vừa khó khăn vừa mang tính sống còn, nhưng chưa được giải quyết một cách bài bản.

Một thách thức khác mang tính nền tảng là văn hóa cải tiến trong doanh nghiệp nội địa còn yếu. Thực tế cho thấy, không ít doanh nghiệp đăng ký tham gia các chương trình cải tiến năng suất với quyết tâm rất cao ở giai đoạn đầu, nhưng sau một thời gian thì các hoạt động này dần bị lãng quên, thiếu theo dõi và không duy trì được tính liên tục. Điều này phản ánh thực trạng văn hóa nâng cao năng suất, chất lượng chưa thực sự thấm sâu vào tư duy quản trị và hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp nội địa.

Bên cạnh đó, sự thiếu hụt và phân bổ không đồng đều đội ngũ chuyên gia tại địa phương cũng là rào cản lớn. Dù số lượng chuyên gia năng suất chất lượng được cấp chứng chỉ hiện nay không phải ít song phần lớn lại tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Điều này khiến nhiều địa phương gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn lực chuyên môn chất lượng cao để hỗ trợ doanh nghiệp triển khai các chương trình cải tiến một cách hiệu quả và bền vững.

Những tồn tại nêu trên đã được các cơ quan chức năng nhận diện khá rõ trong quá trình triển khai Chương trình 1322 giai đoạn 2021–2025. Trên cơ sở đó, các định hướng và giải pháp khắc phục đang được xây dựng nhằm chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo từ năm 2026, với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp nội địa thu hẹp dần khoảng cách với khối FDI và hướng tới phát triển bền vững hơn.

MC: Vậy về phía doanh nghiệp thì sao, thưa ông Hoàng Minh Dũng?

Ông Hoàng Minh Dũng: Theo tôi, yếu tố tiên quyết để thay đổi năng suất phải bắt đầu từ sự thay đổi trong tư duy quản trị của người lãnh đạo. Khi tư duy này được thấm nhuần và dẫn dắt một cách nhất quán, nó sẽ tạo ra định hướng rõ ràng và truyền được động lực xuống toàn bộ đội ngũ nhân viên. Ngược lại, nếu lãnh đạo không thay đổi, mọi nỗ lực cải tiến phía dưới rất khó đi đến kết quả thực chất.

Theo đó, một hiểu lầm khá phổ biến về chuyển đổi số trong cộng đồng doanh nghiệp hiện nay đó là đồng nhất chuyển đổi số với việc mua phần mềm hay ứng dụng công cụ AI. Trên thực tế, cốt lõi của chuyển đổi số nằm ở mô hình vận hành, nơi mọi quyết định quản trị phải dựa trên dữ liệu số. Quản trị hiện đại không còn tổ chức theo từng phòng ban riêng lẻ mà phải được thiết kế và vận hành theo toàn bộ chuỗi giá trị, với dữ liệu đóng vai trò trung tâm.

Một điểm đáng chú ý khác là thế mạnh của nguồn nhân lực Việt Nam chưa được khai thác đúng mức. Thực tế tại nhiều doanh nghiệp FDI cho thấy, phần lớn khâu vận hành đều do người Việt đảm nhiệm. Khi được đặt trong một hệ thống và quy trình bài bản, lao động Việt Nam có thể phát huy năng lực rất mạnh mẽ. Thậm chí, trong một số lĩnh vực như tự động hóa có những phần việc mà các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Trung Quốc hay Hàn Quốc còn gặp khó khăn, nhưng đội ngũ kỹ thuật Việt Nam lại có khả năng xử lý hiệu quả.

Ông Hoàng Minh Dũng - Phó Giám đốc Quản lý sản xuất và kỹ thuật, Công ty Nidec Instruments Hà Nội.
Ông Hoàng Minh Dũng - Phó Giám đốc Quản lý sản xuất và kỹ thuật, Công ty Nidec Instruments Hà Nội.

Để tạo ra bước đột phá về năng suất trong thời gian tới, tôi cho rằng doanh nghiệp cần đi theo hướng tiếp cận mang tính tổng thể. Trong đó, quan trọng nhất là kết hợp chặt chẽ giữa tự động hóa và chuyển đổi số, thay vì triển khai rời rạc.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nội địa cần “mượn lực” từ đội ngũ chuyên gia của các doanh nghiệp FDI, thông qua việc tham gia tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm và chuyển giao tri thức. Cuối cùng, sự liên kết cần được mở rộng, không chỉ giới hạn trong nội bộ doanh nghiệp hay giữa các phòng ban mà phải hướng tới sự hợp tác giữa các tổ chức, doanh nghiệp và hệ sinh thái bên ngoài.

Với định hướng đúng đắn và nền tảng tri thức sẵn có, tôi kỳ vọng sự kết hợp này sẽ tạo ra chuyển biến tích cực và bền vững cho năng suất của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.

MC: Thưa TS. Hoàng Xuân Hiệp, Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đang mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp tư nhân, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực then chốt cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Theo ông, Chương trình 1322 giai đoạn tới cần triển khai ra sao để cụ thể hoá các chủ trương này?

TS. Hoàng Xuân Hiệp: Giai đoạn vừa qua, Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tác động rất lớn tới tất cả loại hình doanh nghiệp Việt Nam. Trong đó, định hướng thứ nhất là giao quyền tự chủ rất lớn cho các cơ sở, giảm bớt thủ tục rườm rà; thứ 2 là kinh phí giao cho khoa học công nghệ gia tăng từ mức 2% lên 3% - đây là nỗ lực rất lớn của Chính phủ; thứ ba là chuyển đổi số được coi là trọng tâm.

Trong bối cảnh Nghị quyết 57 tác động mạnh mẽ như vậy, đối với doanh nghiệp tư nhân chúng ta cũng nhìn nhận thấy vai trò là rất lớn. Số liệu thống kê chỉ ra mỗi năm khu vực doanh nghiệp tư nhân đóng góp tới 42-43% GDP, nếu cộng cả khu vực FDI có thể lên tới trên 60%.

Tôi cho rằng, Chương trình 1322 nên tập trung vào khối doanh nghiệp tư nhân - động lực chính trong tăng trưởng của nền kinh tế. Đứng dưới góc độ của Chương trình 1322 và bối cảnh Nghị quyết 57, Nghị quyết 68 được ban hành, cần tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần định vị lại Chương trình 1322 từ “năng suất - chất lượng” sang “năng suất - chất lượng dựa trên KHCN, ĐMST và dữ liệu”.

Thứ hai, việc giao ngân sách khoa học công nghệ nên chuyển dần từ đầu vào sang đầu ra. Trong giai đoạn vừa qua, Chương trình 1322 đã định hướng theo đầu ra nhưng tôi cho rằng cần làm rõ hơn nữa, ngân sách được tài trợ theo mức độ năng suất tăng lên bao nhiêu phần trăm? Thời gian sản xuất đơn hàng (lead time) giảm bao nhiêu phần trăm? Hiệu suất tổng thể OEE tăng bao nhiêu %? Sau khi kết thúc chương trình thì doanh nghiệp có thể hội nhập vào thị trường nào?…

Thứ ba, trước kia Chương trình 1322 thường triển khai ở các doanh nghiệp riêng lẻ thì nay nên triển khai ở một doanh nghiệp có chuỗi hoặc theo cụm doanh nghiệp làm theo chuỗi.

Thứ tư, chúng ta cần tăng cường đào tạo chuyên gia năng suất, chuyên viên cho các khâu trong chuỗi giá trị cho doanh nghiệp. Về bản chất mình nói rằng năng suất tăng dựa trên khoa học công nghệ có nghĩa là giá trị gia tăng tăng, mà giá trị gia tăng tăng thực chất chính là trí tuệ con người đóng góp vào sản phẩm đó thông qua các hoạt động khoa học công nghệ, quản trị. Như vậy, việc đào tào nguồn nhân lực là hết sức quan trọng.

Cuối cùng, Chương trình 1322 cần hướng tới việc hình thành và phát triển thị trường khoa học công nghệ, nơi bên cung và bên cầu gặp được nhau, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để doanh nghiệp tham khảo, từ quyết định đầu tư cho tới khả năng hoàn vốn.

TS. Hoàng Xuân Hiệp - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội.
TS. Hoàng Xuân Hiệp - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội.

MC: Với đặc thù doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn, địa phương có giải pháp gì để giúp nhóm doanh nghiệp này tiếp cận tiêu chuẩn, công cụ cải tiến năng suất mà không tạo thêm gánh nặng chi phí, thưa ông Triệu Ngọc Trung?

Ông Triệu Ngọc Trung: Trong giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Bắc Ninh xác định việc gắn kết giữa nâng cao năng suất với đổi mới sáng tạo là xu thế tất yếu và không thể tách rời. Để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) có cơ hội tham gia hiệu quả vào thị trường xuất khẩu toàn cầu, việc chuyển đổi mô hình và nâng cao năng suất chất lượng là yêu cầu bắt buộc. Quá trình này không chỉ đòi hỏi thay đổi tư duy quyết liệt từ đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp mà còn cần sự chuyển biến trong nhận thức của cả đội ngũ công nhân lao động.

Nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực sẵn sàng cho thị trường lao động toàn cầu, tỉnh Bắc Ninh đã phối hợp với các trường cao đẳng nghề trên địa bàn thử nghiệm đưa chương trình "Năng suất chất lượng" vào giảng dạy như một học phần bắt buộc từ năm 2026. Giải pháp này giúp sinh viên sau khi tốt nghiệp trang bị được những kiến thức cơ bản về năng suất, hình thành tư duy và tác phong công nghiệp chuyên nghiệp.

Bên cạnh đó, định hướng của tỉnh không chỉ dừng lại ở năng suất gắn với đổi mới sáng tạo mà còn phải hướng tới mục tiêu "Năng suất xanh". Việc hướng tới năng suất xanh được xem là chìa khóa để doanh nghiệp thâm nhập vào các thị trường khó tính. Đặc biệt, trong bối cảnh tỉnh đang phấn đấu trở thành trung tâm công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp bán dẫn, việc chuyển đổi xanh phải được gắn liền với năng suất.

Ngoài việc hỗ trợ doanh nghiệp, tỉnh cũng chú trọng nâng cao năng suất đội ngũ cán bộ, công chức nhằm tối giản hóa thủ tục hành chính. Một ví dụ điển hình là tỉnh đi đầu trong việc hỗ trợ đến 60% cho các dự án thuộc "luồng xanh" để tạo đà phát triển.

Ngoài ra, trong mô hình chính quyền mới, tỉnh cũng đặc biệt quan tâm đến ứng dụng công cụ quản lý chuyên sâu, điển hình là tiêu chuẩn ISO 18091 áp dụng cho bộ máy hành chính tại chính quyền địa phương. Mục tiêu cốt lõi là xây dựng bộ máy chính quyền minh bạch, rõ ràng với các thủ tục hành chính gọn nhẹ, không gây rào cản, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp.

MC: Bối cảnh nền kinh tế đang đặt ra yêu cầu ngày càng khắt khe đối với phát triển bền vững, đặc biệt là các tiêu chuẩn liên quan đến kinh tế tuần hoàn, ESG. Vậy Nidec Instruments Hà Nội đã và đang chuẩn bị như thế nào để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới?

Ông Hoàng Minh Dũng: ESG được xác định là nền tảng cốt lõi cho chiến lược phát triển bền vững, không tách rời mà được tích hợp xuyên suốt trong mọi hoạt động và quyết định kinh doanh. Trên nền tảng đó, Nidec Instruments Hà Nội duy trì sản xuất bền vững dựa trên ba trọng trách then chốt, bao gồm bảo đảm an toàn trong sản xuất, kiểm soát chất lượng gắn với tối ưu chi phí và phát triển nguồn nhân lực một cách dài hạn.

Trong chiến lược phát triển, môi trường được coi là trụ cột quan trọng. Với nhiều biện pháp cụ thể đã và đang được triển khai, Nidec Instruments Hà Nội tập trung tối ưu hóa sử dụng các nguồn lực, từ điện, nước đến việc từng bước đưa năng lượng điện mặt trời vào sản xuất. Song song với đó là giải pháp giảm thiểu rác thải và tuần hoàn hóa tài nguyên, thông qua việc phối hợp chặt chẽ với khách hàng nhằm nâng cao tỷ lệ tái sinh nguyên vật liệu, qua đó giảm lượng chất thải phát sinh ra môi trường.

Ở góc độ sản phẩm, với vị thế là đơn vị dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực motor, doanh nghiệp định hướng phát triển các dòng motor tiết kiệm năng lượng, coi đây là một phần quan trọng của chiến lược “sản phẩm xanh”. Những sản phẩm này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp mà còn giúp khách hàng tiết kiệm chi phí điện năng, đồng thời đóng góp trực tiếp vào mục tiêu giảm phát thải CO₂ trên phạm vi toàn cầu.

MC: Theo ông, việc tăng cường liên kết 3 nhà viện - trường - doanh nghiệp có ý nghĩa như thế nào trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, chất lượng của doanh nghiệp hiện nay?

TS. Hoàng Xuân Hiệp: Theo tôi, việc tăng cường liên kết “3 nhà” – viện, trường và doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, doanh nghiệp hiện có nhu cầu rất lớn về đổi mới sáng tạo để cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm và thích ứng với bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Nguồn cung khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đến từ nhiều kênh, trong đó viện nghiên cứu và các trường đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Qua nghiên cứu và thực tiễn triển khai, Viện và Trường có những thông tin đầy đủ về việc các công nghệ nào nên nhập khẩu ở nước ngoài, đồng thời cũng là nguồn cung lớn về các kết quả nghiên cứu, công nghệ do Việt Nam làm chủ. Khi mối liên kết “3 nhà” được thiết lập và vận hành hiệu quả, tri thức khoa học sẽ được chuyển hóa thành giá trị kinh tế, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp.

Thứ nhất, doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nhanh hơn với tri thức và công nghệ mới về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo như công nghệ số, công nghệ xanh, trí tuệ nhân tạo (AI)…

Thứ hai, bản thân viện nghiên cứu và trường đại học cũng là chủ thể cung ứng công nghệ cho thị trường, góp phần rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng thực tiễn.

Thứ ba, để vận hành và làm chủ công nghệ mới, doanh nghiệp rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao. Viện và trường chính là địa chỉ đào tạo uy tín, đáp ứng trực tiếp nhu cầu đó. Chẳng hạn, mỗi năm Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội có thể tổ chức từ 30 - 40 khóa đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, dành cho đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý. Các nhu cầu như đào tạo nhân lực cho dây chuyền sản xuất thông minh hay cán bộ kỹ thuật, quản lý am hiểu các công cụ cải tiến như Lean, Six Sigma… đều có thể được đáp ứng.

Thứ tư, việc triển khai khoa học công nghệ thông qua liên kết “3 nhà” giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí và rủi ro. Nếu doanh nghiệp tự tìm hiểu, tự triển khai có thể thiếu thông tin, kéo dài lộ trình tiếp cận công nghệ, dẫn đến chi phí cao, khấu hao lớn và rủi ro nhiều hơn. Ngược lại, khi có sự đồng hành của viện và trường, quá trình này sẽ hiệu quả hơn, an toàn hơn và tiết kiệm hơn.

Tôi cho rằng mối quan hệ giữa viện - trường - doanh nghiệp là mối quan hệ hữu cơ. Để mối liên kết này phát huy hiệu quả, Nhà nước cần có chính sách thúc đẩy phù hợp, trong đó chú trọng hình thành và phát triển thị trường khoa học công nghệ, quản trị và kết nối cung – cầu bằng dữ liệu. Khi các bên “gặp được nhau”, hiểu rõ nhu cầu và năng lực của nhau, mối quan hệ sẽ ngày càng gắn kết, qua đó phát huy tốt hơn tiềm năng đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, chất lượng cho doanh nghiệp.

MC: Đất nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, theo ông, các phương pháp và công cụ nâng cao năng suất, chất lượng cần thay đổi như thế nào để phù hợp hơn với địa phương mình, thưa ông?

Ông Triệu Ngọc Trung: Trong bối cảnh đất nước chuyển mình mạnh mẽ sang giai đoạn phát triển kinh tế số và chuyển đổi số, các phương pháp hay công cụ nâng cao năng suất chất lượng cần có những thay đổi căn bản để phù hợp với thực tiễn tại địa phương. Sự liên kết giữa ba nhà Viện/Trường - Doanh nghiệp - Cơ quan quản lý nhà nước là mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời. Nếu như giai đoạn trước, nhiều doanh nghiệp vẫn còn áp dụng công cụ cải tiến truyền thống một cách đơn lẻ thì hiện nay, nâng cao năng suất chất lượng đòi hỏi sự đổi mới toàn diện.

Tọa đàm trực tuyến: ‘Tăng tốc năng suất - Bứt phá trong giai đoạn mới’ - Ảnh 2

Trong giai đoạn tới, định hướng trọng tâm là đưa chuyển đổi số vào quá trình nâng cao năng suất chất lượng tại doanh nghiệp. Đây là yếu tố tất yếu để doanh nghiệp có thể hội nhập với xu hướng quốc tế.

Đặc biệt, đối với những địa phương như Bắc Ninh, khi đã xác định tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt đối với ngành công nghiệp bán dẫn và công nghiệp phụ trợ cho các tập đoàn lớn, việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật là vô cùng cần thiết. Điều này không chỉ giúp khối công nghiệp bán dẫn theo kịp đà hội nhập toàn cầu mà còn góp phần phát triển hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất.

Bên cạnh chuyển đổi số, công nghệ xanh và chuyển đổi xanh cũng là định hướng quan trọng. Các cơ quan chức năng sẽ phối hợp với doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp truyền thống và doanh nghiệp mới nổi) áp dụng các tiêu chuẩn về quản lý môi trường, quản lý năng lượng và kiểm kê khí nhà kính. Những nỗ lực này nhằm đáp ứng yêu cầu khắt khe từ các thị trường quốc tế khó tính, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp thực hiện kinh tế tuần hoàn, tái chế chất thải và sử dụng năng lượng tái tạo trong sản xuất.

Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, việc xây dựng đội ngũ chuyên gia về năng suất chất lượng tại địa phương là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Đội ngũ này phải đủ năng lực, được cấp chứng chỉ và giàu kinh nghiệm để giúp doanh nghiệp tiếp cận các công cụ cải tiến hiện đại.

Tại thời điểm hiện tại, Bắc Ninh đã hợp tác chặt chẽ với Viện Năng suất Việt Nam để đào tạo chuyên gia địa phương. Trong tương lai, mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026-2030 tỉnh đề ra là đào tạo được ít nhất 300 chuyên gia về năng suất chất lượng trên địa bàn tỉnh để đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.

MC: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng đang chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu, chính sách về năng suất chất lượng cần được đổi mới theo hướng nào để vừa thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, vừa hỗ trợ doanh nghiệp một cách thực chất, hiệu quả và bền vững hơn trong giai đoạn tới, thưa ông Hoàng Xuân Hiệp?

TS. Hoàng Xuân Hiệp: Theo tôi, mô hình tăng trưởng khả thi và bền vững trong giai đoạn tới là tăng trường bằng trí tuệ mà thước đo là đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế. Do đó, chính sách phải đổi mới theo hướng thúc đẩy sự đóng góp của KHCN và ĐMST vào doanh nghiệp.

Cụ thể, cần nhanh chóng đưa Nghị quyết 57 vào cuộc sống: Cắt giảm chi phí tuân thủ, thủ tục rườm rà; Thúc đẩy phát triển và ứng dụng KHCN và ĐMST.

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng KHCN&ĐMST để nâng cao năng suất trong khuôn khổ hội nhập quốc tế: Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực đồng bộ theo chuỗi cung ứng của doanh nghiệp, chuyên gia năng suất; Chính sách ưu đãi thuế, lãi suất cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ số, công nghệ xanh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng; Phát triển thị trường khoa học công nghệ: cơ sở dữ liệu cung cầu, chuyên gia năng suất…

MC: Vâng, câu hỏi cuối cùng xin được gửi tới cả 3 vị khách mời! Bước sang năm 2026 và giai đoạn phát triển mới của đất nước, các ông kỳ vọng năng suất và chất lượng sẽ được định vị như thế nào trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, cũng như trong tư duy quản trị của các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam?

Đầu tiên, xin mời TS. Hoàng Xuân Hiệp!

TS. Hoàng Xuân Hiệp: Trước đây, năng suất và chất lượng thường được xem là công cụ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, NSCL cần được nhìn nhận ở một tầm cao mới - trở thành trụ cột cho phát triển, chứ không chỉ là một khía cạnh hay giải pháp hỗ trợ đơn lẻ.

Để NSCL thực sự đóng vai trò là trụ cột, điều kiện tiên quyết là phải có hệ thống chính sách đồng bộ, tạo nền tảng cho việc nâng cao năng suất và chất lượng một cách bền vững.

Thứ nhất, nâng cao năng suất phải gắn chặt với khoa học – công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST). Việc thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng KHCN, ĐMST vào sản xuất, kinh doanh cần được coi là trọng tâm, bởi đây là con đường giúp gia tăng năng suất mà không làm gia tăng tiêu hao tài nguyên, đồng thời nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh dài hạn.

Thứ hai, về chất lượng, nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì giai đoạn hiện nay cần tiếp cận theo hướng toàn diện hơn. Không chỉ tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, mà còn phải nâng cao chất lượng của các yếu tố liên quan như thể chế, chính sách, môi trường kinh doanh, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và đội ngũ nhà khoa học hoạt động hiệu quả.

Song song với đó là nâng cao chất lượng của chính doanh nghiệp và đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu, đơn đặt hàng của doanh nghiệp.

Tựu trung lại, để đạt được tăng trưởng nhanh và bền vững, không có con đường nào khác ngoài việc dựa trên năng suất lao động cao và chất lượng sản phẩm bền vững, coi đây là nền tảng cốt lõi cho phát triển kinh tế trong giai đoạn mới.

Xin mời ông Triệu Ngọc Trung!

Ông Triệu Ngọc Trung: Bước sang năm 2026, giai đoạn khởi đầu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2026–2030), năng suất và chất lượng được định vị là "trụ cột cốt lõi" và động lực quyết định để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng đột phá. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số như Chính phủ đã đặt ra, việc nâng cao năng suất chất lượng là một yêu cầu tất yếu.

Để làm được điều đó, đầu tiên phải thay đổi cơ chế hỗ trợ linh hoạt lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trong đó ưu tiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt, cần tập trung đầu tư đột phá cho hạ tầng, bởi hạ tầng sẽ quyết định sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp.

Thực tiễn cho thấy, khi năng suất và chất lượng được đặt đúng vị trí trung tâm và là trụ cột, sẽ tự trở thành động lực nội sinh cho sự phát triển cho chính doanh nghiệp. Tỉnh Bắc Ninh cũng kỳ vọng rằng trong giai đoạn tới, bên cạnh các hỗ trợ từ Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp sẽ được thụ hưởng những thành tựu của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để bứt phá trong giai đoạn 2026–2030.

MC: Xin mời ông Hoàng Minh Dũng!

Ông Hoàng Minh Dũng: Theo tôi, giai đoạn 2026–2030 sẽ là “cửa sổ cơ hội” rất lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ. Trước đây, các quốc gia như Thái Lan hay Indonesia thu hút lượng lớn vốn FDI nhờ lợi thế chi phí nhân công, nhưng đến nay lợi thế này đang dần suy giảm. Cùng với những rủi ro gia tăng từ địa chính trị và chiến tranh thương mại, nhiều tập đoàn đa quốc gia đang chủ động đa dạng hóa điểm đến đầu tư và Việt Nam được lựa chọn như một điểm đến then chốt để giảm thiểu rủi ro trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, để thực sự đón nhận và giữ chân được dòng vốn FDI chất lượng cao, năng suất và chất lượng phải được coi là điều kiện tiên quyết, chứ không còn là mục tiêu mang tính khẩu hiệu. Tôi cho rằng doanh nghiệp Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào lợi thế lao động giá rẻ mà buộc phải lấy năng suất và chất lượng làm nền tảng chiến lược nếu muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Từ góc độ đó, tôi cho rằng việc tạo ra bứt phá về năng suất cần lộ trình tổng thể và có hệ thống. Trước hết là thay đổi tư duy quản trị, bởi nếu lãnh đạo không thay đổi thì mọi nỗ lực cải tiến ở cấp dưới rất khó đi vào thực chất.

Tiếp theo là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lấy con người làm trung tâm trong mọi chiến lược phát triển. Việc này không thể do doanh nghiệp đơn lẻ thực hiện mà cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, viện nghiên cứu, Nhà nước và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì văn hóa cải tiến liên tục, coi cải tiến là hoạt động thường ngày chứ không phải một phong trào ngắn hạn.

Trên nền tảng đó, tôi cho rằng xây dựng hệ thống sản xuất thông minh là hướng đi tất yếu, thông qua việc kết hợp giữa sản xuất tinh gọn (Lean), chuyển đổi số và các công nghệ mới như AI. Nếu các giải pháp này được triển khai đồng bộ, bài bản và kiên trì, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được sự bùng nổ về năng suất, thậm chí tăng gấp đôi hoặc cao hơn trong một số lĩnh vực.

Theo tôi, đây chính là con đường giúp doanh nghiệp Việt Nam chuyển từ lợi thế “giá rẻ” sang lợi thế dựa trên tri thức, công nghệ và quản trị hiện đại, qua đó khẳng định vị thế và tham gia một cách bền vững hơn vào nền kinh tế toàn cầu.

MC: Vâng, xin cảm ơn những chia sẻ của các vị khách mời!

Kính thưa quý vị và các bạn,

Những trao đổi vừa rồi cho thấy, nâng cao năng suất không phải là nhiệm vụ mang tính thời điểm, mà là hành trình dài hạn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, bền bỉ và thực chất của Nhà nước – giới chuyên gia - cộng đồng doanh nghiệp. Trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, năng suất chất lượng không còn là lợi thế lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu, yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Việc tăng tốc triển khai các nhiệm vụ chiến lược ngay từ hôm nay chính là nền tảng quan trọng, là “đòn bẩy” để doanh nghiệp Việt Nam nâng tầm năng suất, bứt phá mạnh mẽ trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.

Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời đã dành thời gian tham gia và chia sẻ nhiều góc nhìn sâu sắc tại chương trình. Cảm ơn quý vị khán giả đã quan tâm theo dõi.

Xin kính chào và hẹn gặp lại quý vị trong các chương trình tiếp theo!

Theo Tạp chí Chất lượng Việt Nam