TP.HCM xây dựng kế hoạch triển khai hệ thống học liệu số quốc gia trong giáo dục phổ thông

TP.HCM thúc đẩy xây dựng kế hoạch triển khai Đề án Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông, dự kiến trình UBND Thành phố trong tháng 11/2026. Đây là bước tiến trong chuyển đổi số giáo dục, hướng tới mở rộng khả năng tiếp cận nguồn học liệu chất lượng, nâng cao hiệu quả dạy và học.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

UBND TP.HCM vừa tiếp nhận Quyết định số 1965/QĐ-TTg ngày 12/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông”. Trên cơ sở đó, Văn phòng UBND Thành phố truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Mạnh Cường, giao Sở Giáo dục và Đào tạo rà soát các nhiệm vụ được phân công, phân cấp tại Quyết định và phụ lục kèm theo; đồng thời phối hợp với các sở, ngành có liên quan tham mưu UBND Thành phố ban hành kế hoạch thực hiện Đề án trong tháng 11/2026.

Việc triển khai Đề án được kỳ vọng tạo nền tảng để ngành giáo dục khai thác hiệu quả công nghệ số, từng bước đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý. Trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu, xây dựng hệ thống học liệu dùng chung không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông mà còn mở rộng khả năng tiếp cận tri thức cho giáo viên và học sinh.

Theo Đề án, hệ thống học liệu số quốc gia được xác định là hạ tầng dùng chung do Nhà nước quản lý thống nhất, phát triển theo hướng mở, liên thông và lấy dữ liệu làm trung tâm. Quá trình xây dựng ưu tiên kế thừa, kết nối với các hạ tầng, nền tảng và dịch vụ số quốc gia hiện có, qua đó hạn chế đầu tư trùng lặp, tăng khả năng chia sẻ và khai thác tài nguyên giáo dục.

Một trong những mục tiêu quan trọng là bảo đảm công bằng trong tiếp cận học liệu. Giáo viên, học sinh và cán bộ quản lý giáo dục có thể tiếp cận nguồn tài nguyên phục vụ dạy và học, trong đó học liệu công khai, miễn phí không bắt buộc người dùng đăng nhập tài khoản. Cách tiếp cận này góp phần giảm rào cản trong khai thác tri thức, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục chủ động ứng dụng học liệu số phù hợp với nhu cầu thực tế.

Về hạ tầng, Cổng học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông sẽ được xây dựng và vận hành ổn định, an toàn, đáp ứng yêu cầu khai thác tại 100% cơ sở giáo dục phổ thông trên toàn quốc theo quy mô và tiêu chuẩn kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cùng với đó, bộ học liệu lõi quốc gia cho các môn học và cấp học theo Chương trình giáo dục phổ thông sẽ được hoàn thiện, ưu tiên các nội dung tương tác đa phương tiện, mô phỏng thực tế và thí nghiệm ảo.

Đây là hướng phát triển có ý nghĩa thiết thực đối với đổi mới giáo dục, bởi học liệu số không chỉ cung cấp nội dung tham khảo mà còn tạo thêm phương thức trực quan hóa kiến thức, hỗ trợ học sinh chủ động khám phá và nâng cao khả năng thực hành. Đối với giáo viên, nguồn học liệu được chuẩn hóa và chia sẻ rộng rãi sẽ góp phần đa dạng hóa cách tổ chức bài giảng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên trong quá trình giảng dạy.

Bên cạnh đầu tư công nghệ và nội dung, Đề án chú trọng phát triển năng lực số cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh. Việc bồi dưỡng sẽ được thực hiện theo lộ trình, bảo đảm người dùng có khả năng khai thác, sử dụng và đóng góp học liệu số. Hiệu quả hệ thống không chỉ được đánh giá qua mức độ hoàn thiện về kỹ thuật mà còn thông qua tần suất khai thác, khả năng đáp ứng nhu cầu và mức độ hài lòng của người sử dụng.

Lộ trình triển khai được chia thành hai giai đoạn. Trong giai đoạn 2026-2027, các cơ quan chức năng tập trung hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng phiên bản thử nghiệm Cổng học liệu số và tổ chức thí điểm tại một số địa phương. Giai đoạn 2028-2030 sẽ hoàn thiện, mở rộng và triển khai đồng bộ hệ thống trên phạm vi toàn quốc. Mục tiêu đặt ra là phấn đấu trước năm 2030, 100% cơ sở giáo dục phổ thông được kết nối và sử dụng hệ thống.

Để đạt mục tiêu này, Đề án xác định tám nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm hoàn thiện thể chế, chính sách; phát triển hạ tầng công nghệ; xây dựng bộ học liệu lõi; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn; kết nối, chia sẻ và xác thực dữ liệu; bảo đảm an ninh mạng; nâng cao năng lực số; huy động nguồn lực và thúc đẩy hợp tác quốc tế.

Đối với TP.HCM, việc sớm xây dựng kế hoạch triển khai sẽ tạo cơ sở để cụ thể hóa các nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của Thành phố, đồng thời xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị. Khi được tổ chức thực hiện đồng bộ, hệ thống học liệu số quốc gia sẽ góp phần thúc đẩy chuyển đổi số ngành giáo dục, tăng cường chia sẻ tài nguyên, thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức và tạo thêm điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông trong giai đoạn mới.

Bạch Dương