Chè Phú Thọ chuyển mình theo xu hướng an toàn sinh học

Trước những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, ngành chè Phú Thọ đang đẩy mạnh chuyển dịch sang mô hình canh tác sinh học nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và bảo vệ thương hiệu địa phương.

Quy mô vùng nguyên liệu và áp lực chuẩn hóa chất lượng sản phẩm

Cây chè từ lâu đã trở thành một trong những cây trồng chủ lực, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho hàng chục nghìn hộ dân tại vùng trung du miền núi Phú Thọ. Toàn tỉnh hiện đang quản lý vùng nguyên liệu lớn với tổng diện tích gần 15.000 ha chè. Với điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, năng suất bình quân của toàn vùng đạt hơn 136 tạ/ha, giúp đưa tổng sản lượng hằng năm đạt trên 193.000 tấn, khẳng định vị thế là một trong những trung tâm sản xuất chè lớn của cả nước. Tuy nhiên, trước xu hướng tiêu dùng hiện đại và các tiêu chuẩn kiểm dịch khắt khe từ các thị trường xuất khẩu, việc duy trì mô hình canh tác truyền thống dựa trên sản lượng đơn thuần không còn mang lại lợi thế cạnh tranh cao. Việc chuẩn hóa vùng trồng và kiểm soát quy trình sản xuất đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao giá trị kinh tế bền vững.

Sự chuyển dịch từ tư duy chú trọng sản lượng sang tập trung vào chất lượng đang được triển khai đồng bộ tại các địa phương trồng chè trên địa bàn tỉnh. Các mô hình canh tác an toàn sinh học thông qua việc tăng cường phân bón hữu cơ, phân vi sinh, cải tạo đất và ứng dụng các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp đang dần thay thế phương thức canh tác phụ thuộc vào hóa chất vô cơ. Đến nay, Phú Thọ đã có 14,4 nghìn ha chè áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM và quản lý cây trồng tổng hợp ICM. Diện tích sản xuất đạt các tiêu chuẩn an toàn như GlobalGAP, Rainforest Alliance, VietGAP hay hữu cơ đã đạt trên 4,3 nghìn ha. Bên cạnh đó, tỉnh đã cấp và quản lý 162 mã số vùng trồng nội địa, tạo cơ sở thực chất cho hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm. 

Chè Phú Thọ chuyển mình theo xu hướng an toàn sinh học - Ảnh 1

Vai trò của mô hình hợp tác xã trong việc kiểm soát quy trình sản xuất

Để thay đổi thói quen sản xuất nhỏ lẻ, các hợp tác xã tại Phú Thọ đang phát huy vai trò kết nối và định hướng cho người nông dân. Các mô hình kinh tế tập thể này hướng dẫn hộ thành viên giảm dần việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hóa học, thay bằng kỹ thuật ủ phân chuồng, sử dụng phân hữu cơ vi sinh và sinh học thảo mộc. Quy trình quản lý được thắt chặt thông qua việc ghi chép nhật ký đồng ruộng và thực hiện cơ chế kiểm soát chéo giữa các hộ gia đình. Nhằm tối ưu hóa điều kiện sinh trưởng cho cây chè, nhiều khu vực đã đầu tư hệ thống tưới phun mưa tự động tiết kiệm nước và trồng xen canh cây thân gỗ tán lớn tạo bóng mát, hạn chế ô nhiễm xung quanh. Việc chuẩn hóa quy trình thâm canh này giúp nhiều cơ sở được cấp nhãn hiệu chứng nhận “Chè Phú Thọ”, tạo nền tảng vững chắc để tiếp cận thị trường.

Bên cạnh khâu canh tác, việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng tiên tiến như hệ thống kiểm soát mối nguy HACCP tại các xưởng chế biến đã giúp kiểm soát tốt các rủi ro từ nguyên liệu đầu vào đến thành phẩm. Nhờ đó, sản phẩm chè duy trì được sự ổn định về màu sắc, hương vị tự nhiên và độ ẩm. Mô hình liên kết chuỗi giá trị này đang ghi nhận hiệu quả tích cực tại các vùng chè trọng điểm như xã Long Cốc. Với tổng diện tích 960,54 ha chè (trong đó 943 ha đã cho sản phẩm, năng suất đạt 13,2 tấn/ha/năm), hệ thống liên kết tại đây quy tụ hàng chục thành viên và hơn 60 hộ vệ tinh. Việc cam kết không sử dụng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu hóa học hay chất kích thích đã giúp tạo nguồn nguyên liệu sạch, đưa 6 sản phẩm của địa phương đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao, đồng thời mang lại nguồn doanh thu ổn định cho các hợp tác xã đi đầu.

Chè Phú Thọ chuyển mình theo xu hướng an toàn sinh học - Ảnh 2

Chiến lược thâm canh và kế hoạch phát triển chuỗi giá trị dài hạn

Hạ tầng công nghiệp chế biến chè tại Phú Thọ hiện đang có sự phân hóa và phát triển đa dạng với 104 cơ sở chế biến công suất lớn, trong đó có 76 doanh nghiệp đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO và HACCP. Mạng lưới này vận hành song song cùng hệ thống phân phối của 15 hợp tác xã, 12 làng nghề, 1 trang trại và hơn 900 cơ sở chế biến quy mô hộ gia đình. Sự tham gia tích cực của các cơ sở sản xuất đã nâng tổng số sản phẩm chè đạt chuẩn OCOP của toàn tỉnh lên 38 sản phẩm, bao gồm 19 sản phẩm 3 sao, 17 sản phẩm 4 sao và 2 sản phẩm đạt hạng 5 sao. Quy mô vùng trồng tập trung lớn chính là điều kiện thuận lợi để địa phương triển khai các đề án đồng bộ hóa về cơ cấu giống và quản trị mã số vùng trồng trên diện rộng.

Để tiếp tục duy trì và nâng cao vị thế cạnh tranh, Hội đồng Nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ban hành Nghị quyết số 41/2025/NQ-HĐND, vạch rõ mục tiêu phát triển cho giai đoạn 2026 - 2030. Theo kế hoạch, ngân sách tỉnh sẽ tập trung hỗ trợ thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng cho các vùng nguyên liệu chè chất lượng cao có quy mô diện tích từ 3 ha trở lên với tổng diện tích khoảng 1.750 lượt ha (trong đó ưu tiên dành 500 ha cho chè Shan tuyết), mức hỗ trợ tối đa đạt 50 triệu đồng/ha. Định hướng cốt lõi của tỉnh là duy trì diện tích chè ổn định khoảng 14.000 ha, thực hiện trồng lại và tái canh khoảng 2,5 nghìn ha. Mục tiêu đến cuối giai đoạn là đưa 80% diện tích chè toàn tỉnh áp dụng quy trình sản xuất an toàn và trên 70% diện tích sản xuất tập trung được quản lý, cấp mã số vùng trồng phục vụ truy xuất nguồn gốc, mở ra hướng đi bền vững cho ngành chè địa phương.

Bảo An