Đà Nẵng chuyển hướng phát triển rừng gỗ lớn, nâng giá trị kinh tế rừng

Từ những cánh rừng trồng chu kỳ ngắn đến định hướng phát triển rừng gỗ lớn, Đà Nẵng đang từng bước nâng giá trị kinh tế của rừng theo hướng bền vững. Cùng với mở rộng vùng nguyên liệu có chứng chỉ, địa phương đẩy mạnh liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, qua đó tạo sinh kế ổn định, gia tăng giá trị gỗ và góp phần giữ đất, giữ nước tại khu vực miền núi.

Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, Đà Nẵng có diện tích đất lâm nghiệp và rừng khoảng 745.027 ha. Trong đó, diện tích rừng trồng khoảng 241.639 ha, gồm 188.099 ha đã thành rừng và 53.540 ha đang trong giai đoạn kiến thiết. Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng để thành phố phát triển vùng rừng trồng phục vụ chế biến gỗ.

Người dân và lực lượng chức năng tích cực tham gia trồng mới, phủ xanh đất trống đồi trọc bằng các mô hình trồng rừng sản xuất hướng tới mục tiêu phát triển gỗ lớn tại Đà Nẵng. (Ảnh minh họa)
Người dân và lực lượng chức năng tích cực tham gia trồng mới, phủ xanh đất trống đồi trọc bằng các mô hình trồng rừng sản xuất hướng tới mục tiêu phát triển gỗ lớn tại Đà Nẵng. (Ảnh minh họa)

Tuy nhiên, trong thời gian dài, phần lớn rừng trồng được khai thác theo chu kỳ khoảng 4-5 năm, chủ yếu phục vụ sản xuất dăm gỗ. Hình thức này giúp người dân thu hồi vốn nhanh, song gỗ khai thác có đường kính nhỏ, giá trị thấp và khó đáp ứng yêu cầu của ngành chế biến đồ gỗ nội thất, vật liệu xây dựng và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Việc khai thác rừng theo chu kỳ ngắn trên địa hình dốc cũng đặt ra yêu cầu về bảo vệ đất, nguồn nước và hạn chế xói mòn. Vì vậy, Đà Nẵng đang định hướng kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng, chuyển một phần diện tích rừng trồng sang gỗ lớn, đồng thời khuyến khích sử dụng các giống cây phù hợp và phát triển cây bản địa.

Hướng tới vùng nguyên liệu gỗ lớn

Theo định hướng đến năm 2030 tại Nghị quyết số 12-NQ/TU, Đà Nẵng đặt mục tiêu phát triển ít nhất 45.000 ha rừng trồng gỗ lớn, với năng suất bình quân 20 m³/ha/năm; trồng khoảng 4.600 ha rừng gỗ lớn bằng cây bản địa; duy trì ít nhất 30.000 ha rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững.

Thành phố cũng định hướng xây dựng 10-15 nhóm hộ quản lý rừng quy mô lớn, đưa hơn 70% sản lượng gỗ khai thác vào chế biến sâu và duy trì tỷ lệ che phủ rừng ở mức 54%.

Để hỗ trợ người dân vượt qua giai đoạn đầu của chu kỳ trồng rừng, HĐND thành phố đã ban hành Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ phát triển rừng sản xuất gỗ lớn.

Đà Nẵng chuyển hướng phát triển rừng gỗ lớn, nâng giá trị kinh tế rừng - Ảnh 1

Theo chính sách này, thành phố hỗ trợ 100% mức chênh lệch lãi suất giữa lãi suất vay thương mại và lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước. Đối với các loại cây gỗ, cây đa mục đích thuộc diện chính sách, không bao gồm keo và bạch đàn, mức hỗ trợ trực tiếp là 55 triệu đồng/ha/chu kỳ để phục vụ mua giống, phân bón và chi phí nhân công.

Năm 2026, thành phố bố trí khoảng 13,5 tỷ đồng thực hiện chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất gỗ lớn. 12 xã được giao làm chủ đầu tư và đã phê duyệt hỗ trợ cho 215 hộ gia đình, cá nhân triển khai trồng mới 227 ha rừng gỗ lớn.

Nguồn lực này góp phần giảm áp lực vốn cho các hộ dân trong thời gian chờ rừng đạt tuổi khai thác.

Mô hình chuyển đổi từ cơ sở

Tại các địa bàn miền núi, việc chuyển đổi rừng chu kỳ ngắn sang cây gỗ lớn đang được triển khai theo nhiều mô hình khác nhau.

Đà Nẵng chuyển hướng phát triển rừng gỗ lớn, nâng giá trị kinh tế rừng - Ảnh 2

Tại xã Đông Giang, gia đình ông Bnướch Ngang ở thôn A Duông đã chuyển gần 1 ha trong tổng số 3 ha rừng sang trồng quế và lim. Sau 5 năm, mô hình bước đầu cho thấy triển vọng về hiệu quả kinh tế so với phương thức trồng keo chu kỳ ngắn.

Tại xã Sông Kôn, ông Bríu Tư cùng một số hộ dân chuyển gần 3 ha keo sang trồng quế và dổi. Địa phương hiện hình thành vùng nguyên liệu rừng gỗ lớn tập trung với quy mô hơn 1.500 ha.

Ở khu vực phía Tây Nam, người dân tại các địa bàn như Lãnh Ngọc, Tiên Phước, Trà Vân, Nam Trà My cũng từng bước mở rộng các loại cây lâu năm và cây gỗ bản địa như huỷnh, giổi xanh, lát hoa, sao đen.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Trần Út, chuyển đổi từ rừng keo chu kỳ ngắn sang cây gỗ lớn còn tạo điều kiện phát triển kinh tế dưới tán rừng. Một số loại cây dược liệu và cây ngắn ngày có thể được bố trí phù hợp, tạo thêm nguồn thu cho người dân trong thời gian chờ rừng đến tuổi khai thác.

Liên kết để người dân giữ rừng lâu hơn

Thời gian đầu tư dài, vốn hạn chế, nguy cơ thiệt hại do thiên tai và đầu ra sản phẩm là những vấn đề đặt ra đối với phát triển rừng gỗ lớn.

Do đó, liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ dân được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để giảm rủi ro cho người trồng rừng.

Hợp tác xã Nông nghiệp Hiệp Thuận hiện có 1.558,33 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, với 273 hộ tham gia. Hợp tác xã hỗ trợ người dân về kỹ thuật, cây giống, đánh giá chứng chỉ và liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Đáng chú ý, các hộ có rừng từ 5 tuổi trở lên được hỗ trợ tiếp cận khoản vốn không tính lãi tương đương 30% giá trị lô rừng để kéo dài chu kỳ kinh doanh. Sau khai thác, sản phẩm được thu mua cao hơn giá thị trường khoảng 5-7%.

Hợp tác xã cũng xây dựng quỹ phòng ngừa rủi ro thiên tai và thí điểm bảo hiểm gió bão nhằm giảm thiểu thiệt hại cho người trồng rừng.

Trong khi đó, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Lâm nghiệp Quảng Nam đã triển khai liên kết tại 8 xã. Theo số liệu được cung cấp, diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC, VFCS/PEFC trên địa bàn thành phố đạt hơn 33.000 ha, với hơn 6.500 hộ dân tham gia.

Việc mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ cũng góp phần đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp, tạo điều kiện để sản phẩm tham gia sâu hơn vào chuỗi chế biến và xuất khẩu.

Tăng khả năng bảo vệ đất, nguồn nước

Bên cạnh giá trị kinh tế, rừng gỗ lớn có ý nghĩa đối với bảo vệ tài nguyên đất và nước, nhất là tại các khu vực miền núi có địa hình dốc.

Việc kéo dài chu kỳ sinh trưởng, duy trì thảm thực vật và tăng tỷ lệ cây bản địa phù hợp có thể góp phần hạn chế xói mòn, tăng khả năng giữ nước và giảm tác động của mưa lớn đối với đất rừng.

Đây cũng là một trong những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh khu vực miền Trung thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, mưa lớn, lũ quét và sạt lở đất.

Tuy nhiên, để chuyển đổi rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn đạt hiệu quả, yếu tố quyết định vẫn là khả năng duy trì liên kết thị trường và bảo đảm lợi ích cho người dân trong suốt chu kỳ sản xuất.

Khi có nguồn vốn hỗ trợ, kỹ thuật sản xuất, chứng chỉ quản lý rừng và doanh nghiệp tham gia tiêu thụ, người dân có thêm điều kiện kéo dài thời gian nuôi rừng, thay vì phải khai thác sớm để thu hồi vốn.

Đà Nẵng đang đặt mục tiêu hình thành vùng nguyên liệu gỗ lớn gắn với chế biến sâu, quản lý rừng bền vững và nâng cao giá trị sản phẩm. Nếu các chính sách được triển khai đồng bộ, hướng đi này có thể tạo thêm dư địa nâng giá trị kinh tế rừng, ổn định sinh kế người dân và tăng khả năng bảo vệ tài nguyên đất, nước tại khu vực miền núi.

Bùi Quốc Dũng