Nghịch lý cường quốc xuất khẩu và cái bẫy số lượng
Những con số thống kê thương mại nhiều năm qua luôn phác họa vị thế ấn tượng của nông sản Việt Nam với hàng triệu tấn gạo, các lô hàng cà phê Robusta cùng lượng lớn thủy sản và gỗ chế biến liên tục xuất ngoại. Tuy nhiên, đằng sau lớp vỏ sản lượng hào nhoáng là thực tế tài chính chưa tương xứng khi biên lợi nhuận đọng lại trong két doanh nghiệp và túi áo nông dân rất khiêm tốn.
Nền nông nghiệp suốt thời gian dài bị cuốn vào mục tiêu gia tăng số lượng bằng mọi giá, chủ yếu dừng ở khâu thu mua, sơ chế thô và đóng bao bì thứ cấp để bán với giá rẻ. Khi chỉ đóng vai trò cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các tập đoàn đa quốc gia, phần giá trị gia tăng lớn nhất từ tinh chế và phân phối thương hiệu đều rơi vào tay đối tác ngoại. Chừng nào nông sản vẫn bán xô theo giá hàng hóa thế giới, nền kinh tế vẫn sẽ mắc kẹt ở đáy chuỗi giá trị và chịu tổn thương trước mọi biến động thị trường.
Nhận thức rõ giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa vào số lượng, cuộc họp bàn giải pháp xuất khẩu nông, lâm, thủy sản mới đây đã đặt thẳng yêu cầu tái cấu trúc toàn diện từng ngành hàng. Đối với hạt gạo, lợi thế không thể tiếp tục dựa vào diện tích gieo trồng hay việc cạnh tranh giá thấp, mà phải xây dựng thương hiệu gạo quốc gia gắn với giống thuần chủng, vùng nguyên liệu tập trung, kiểm soát tồn dư hóa chất và duy trì nguồn cung ổn định để hiện diện trên kệ hàng cao cấp bằng chính tên gọi của mình.
Với ngành cà phê, việc chuyển từ xuất khẩu hạt thô sang chế biến sâu trở thành mệnh lệnh sống còn. Doanh nghiệp trong nước không thể mãi hài lòng với vị trí nhà cung cấp Robusta lớn nhất thế giới trong khi các công đoạn rang xay hay chiết xuất tạo ra giá trị gấp 5 đến 7 lần lại diễn ra ngoài biên giới. Tương tự, ngành gỗ cũng phải chủ động nguồn gỗ rừng trồng gỗ lớn có chứng chỉ bền vững nhằm phục vụ chế biến đồ nội thất, chấm dứt phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu trôi nổi tiềm ẩn rủi ro pháp lý.
Hạ tầng tuân thủ: Thước đo năng lực cạnh tranh mới
Rào cản lớn đối với nông sản xuất khẩu hiện nay là sự thay đổi tư duy kiểm soát từ các thị trường nhập khẩu lớn. Các đối tác tại châu Âu hay Bắc Mỹ không chỉ kiểm tra chất lượng lô hàng tại cảng đến mà giám sát toàn bộ hành trình tạo ra sản phẩm, từ quyền sử dụng đất, nguồn gốc giống, phúc lợi lao động đến lượng phát thải khí nhà kính trong vận chuyển.
Trong bối cảnh đó, dữ liệu vùng trồng, mã số vùng nuôi, hệ thống truy xuất điện tử, mạng lưới kiểm nghiệm chuẩn hóa và năng lực pháp lý thương mại quốc tế đã trở thành hạ tầng tuân thủ thiết yếu. Những doanh nghiệp sở hữu dữ liệu minh bạch, có thể xác thực nguồn gốc chỉ bằng một cú quét mã số hóa sẽ nắm giữ lợi thế đàm phán với mức giá vượt trội; ngược lại, việc cạnh tranh đơn thuần bằng giá rẻ sẽ sớm bị loại khỏi thị trường trước các tiêu chuẩn xanh khắt khe.
Để nâng cao tỷ lệ giá trị giữ lại, ngành nông nghiệp bắt buộc phải từ bỏ thói quen buôn bán manh mún và tư duy mùa vụ ngắn hạn. Tình trạng các đơn vị trong nước tự dìm giá nhau để giành hợp đồng xuất khẩu thô không chỉ làm suy kiệt lợi nhuận toàn ngành mà còn hạ thấp uy tín nông sản quốc gia, thậm chí đẩy cả ngành hàng vào nguy cơ chịu thuế phòng vệ thương mại. Dù các cơ quan quản lý cam kết đẩy mạnh xúc tiến và hỗ trợ tháo gỡ rào cản kỹ thuật, sự bền vững của thị trường vẫn phụ thuộc vào năng lực liên kết chuỗi giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến. Thước đo thành công của nền nông nghiệp không nằm ở số lượng container xuất bến, mà là lượng ngoại tệ ròng tích lũy được cho đất nước và thu nhập thực chất của người làm nông. Đầu tư bài bản cho chế biến sâu, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu và kiên quyết xây dựng thương hiệu là con đường duy nhất để nông sản Việt Nam bước lên nấc thang giá trị cao hơn trên trường quốc tế.
Bảo An