Chuyển dịch từ vùng nguyên liệu nông nghiệp sang chuỗi kinh tế trải nghiệm
Thái Nguyên từ lâu đã khẳng định vị thế là trung tâm sản xuất chè quy mô lớn của miền Bắc với những triền đồi bát úp xanh ngắt và nghệ thuật sao chè thủ công lưu truyền qua nhiều thế hệ. Dù vậy, trong nhiều thập kỷ, giá trị thu về từ cây chè phần lớn vẫn nằm ở khâu bán thô hoặc chế biến đóng gói bao bì mang đi, khiến biên độ lợi nhuận của người nông dân bị giới hạn trong giá bán cân ký. Nhận thấy tiềm năng chưa được khai phá hết từ dòng người đổ về các vùng danh trà, địa phương đang triển khai cuộc tái cấu trúc dịch vụ nhằm đưa cây chè, người làm chè và nghi thức thưởng trà thành sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, gắn kết cảnh quan thiên nhiên với đời sống sinh hoạt của cộng đồng nông thôn.
Động thái chuyển mình này thể hiện rõ qua việc rà soát và quy hoạch đồng bộ 5 tuyến tour chuyên đề gắn với 5 vùng chè trọng điểm của tỉnh gồm Tân Cương, La Bằng, Khe Cốc, Trại Cài và Đồng Phúc. Thay vì để khách du lịch ghé thăm tự phát rồi nhanh chóng rời đi, mỗi điểm đến được định hình một câu chuyện văn hóa riêng biệt. Nếu Tân Cương tập trung vào trải nghiệm tinh hoa chế biến chè móc câu, La Bằng kết hợp giữa suối nguồn tự nhiên và đồi chè Cầu Đá, Khe Cốc và Trại Cài mở ra không gian tương tác lao động thực địa, thì Đồng Phúc lại gây ấn tượng mạnh với những nương chè Shan tuyết cổ thụ có tuổi đời từ vài chục năm đến hơn 100 năm nép mình bên những triền ruộng bậc thang. Chuỗi trải nghiệm khép kín từ khâu đeo giỏ hái búp, trực tiếp đảo chè trên chảo gang đến ngồi đàm đạo bên chén trà nóng đã giúp du khách chạm trực tiếp vào linh hồn của làng nghề, biến sản phẩm nông nghiệp thành dịch vụ tiêu dùng có giá trị gia tăng cao.
Lời giải cho bài toán giữ chân du khách bằng kinh tế đêm và du lịch cộng đồng
Một trong những nút thắt kinh niên của du lịch vùng trung du là tình trạng khách chỉ ghé thăm trong ngày, mức chi tiêu bình quân thấp và thiếu hụt dịch vụ tiêu dùng sau khi trời tối. Để kéo dài thời gian lưu trú và phân bổ nguồn thu về tận tay người dân, tỉnh đã triển khai chủ trương mỗi xã, phường xây dựng ít nhất 1 sản phẩm du lịch cộng đồng gắn liền với bản sắc riêng của từng vùng đất như Quân Chu, La Bằng, Võ Nhai hay khu vực lân cận Ba Bể. Việc khuyến khích người dân địa phương tham gia làm dịch vụ homestay, mở xưởng trải nghiệm thủ công và chế biến ẩm thực từ trà không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn sinh kế, mà còn tạo ra sự gắn kết tự nhiên giữa khách lữ hành và đời sống bản địa.
Song song với các mô hình nông thôn, không gian thương mại đô thị cũng được tái thiết lập để đón đầu nhu cầu vui chơi, mua sắm vào ban đêm. Mô hình tuyến phố đi bộ, không gian văn hóa nghệ thuật và các khu dịch vụ kinh tế đêm đang được đưa vào thử nghiệm tại 4 phường gồm Vạn Xuân, Bắc Kạn, Phan Đình Phùng và Sông Công. Sự kết hợp giữa các gian hàng ẩm thực sáng tạo từ nguyên liệu trà, không gian biểu diễn nghệ thuật đường phố và khu trưng bày sản phẩm OCOP đạt chuẩn giúp lấp đầy khoảng trống giải trí về đêm. Nhờ đó, du khách sau một ngày trải nghiệm thực địa tại các nương chè ngoại ô có thể quay trở về trung tâm để tiếp tục chi tiêu, giải tỏa điểm nghẽn về mức doanh thu dịch vụ lưu trú vốn tồn tại suốt nhiều năm qua.
Mở rộng không gian tiếp cận bằng đường sắt di sản và liên kết vùng
Bên cạnh việc nâng cấp sản phẩm nội tại, bài toán kết nối giao thông và mở rộng thị trường nguồn cũng được giải quyết bằng tư duy đột phá. Thay vì chỉ phụ thuộc vào các tuyến cao tốc đường bộ vốn đã quen thuộc, ngành du lịch địa phương phối hợp với Tập đoàn Đường sắt quốc gia Việt Nam hoàn thiện dự thảo Đề án phát triển tuyến du lịch đường sắt chuyên đề. Hành trình xuất phát từ Ga Hà Nội, đi qua Gia Lâm, Đông Anh và dừng chân tại Ga Lưu Xá được thiết kế như một sản phẩm du lịch di sản độc lập. Trên suốt chặng đường di chuyển, hành khách có thể vừa ngắm cảnh, vừa thưởng thức các phẩm trà trứ danh và tiếp cận thông tin văn hóa của điểm đến trước khi chuyển tiếp sang các tour thực địa tại vùng chè.
Tư duy mở rộng không gian còn thể hiện ở chiến lược liên kết tour tuyến liên tỉnh nhằm thoát khỏi sự đơn độc trên bản đồ du lịch. Tỉnh chủ động đề xuất mô hình liên kết độc đáo mang tên "Đất tổ - Trà Thái - Quan họ" kết nối 3 địa phương Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Ninh, biến văn hóa trà thành một mắt xích không thể tách rời trong hành trình khám phá di sản vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Các hướng hợp tác mở rộng với Lạng Sơn, Cao Bằng hay Tuyên Quang cũng đang được xúc tiến đồng bộ, giúp tạo dựng các hành trình vòng cung Đông Bắc đa dạng, thu hút cả khách nội địa lẫn dòng khách quốc tế ưa chuộng du lịch văn hóa và sinh thái.
Thu hút vốn hạ tầng và bài toán thương mại hóa bền vững
Nền tảng vững chắc để hiện thực hóa tham vọng nâng tầm du lịch trà là danh mục 60 dự án trọng điểm được rà soát để thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách. Địa phương đang tập trung quy hoạch cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông kết nối liên vùng và kêu gọi các tổ chức kinh tế lớn rót vốn vào các khu nghỉ dưỡng cao cấp tại những khu vực giàu tiềm năng như hồ Núi Cốc, hồ Ba Bể và sườn Đông dãy Tam Đảo. Sự xuất hiện của các tổ hợp dịch vụ lưu trú chuẩn mực kết hợp với các dự án nông nghiệp sinh thái sẽ tạo ra đòn bẩy hạ tầng quan trọng, giúp ngành du lịch địa phương nâng cao năng lực phục vụ các đoàn khách quy mô lớn, các hội nghị quốc tế và dòng khách có mức chi trả cao.
Hiệu quả của sự chuyển dịch chiến lược này đã phản ánh trực tiếp vào các chỉ số tăng trưởng kinh tế từ đầu năm 2026 đến nay. Toàn tỉnh ước tính đã đón hơn 6,8 triệu lượt khách du lịch, trong đó lượng khách quốc tế đạt hơn 270.000 lượt, mang lại tổng doanh thu du lịch ước đạt trên 9.700 tỷ đồng. Những con số này minh chứng rõ nét cho thấy hướng đi gắn kết cây chè với chuỗi giá trị dịch vụ đang phát huy tác dụng thực tế. Khi văn hóa trà không còn nằm yên trong chiếc ấm gốm mà trở thành một hệ sinh thái trải nghiệm hoàn chỉnh, Thái Nguyên không chỉ bảo tồn được di sản truyền thống mà còn kiến tạo nên một động lực tăng trưởng kinh tế xanh bền vững cho tương lai.
Bảo An