Tình hình triển khai diện tích trồng mới và kết quả sản lượng đầu năm
Hoạt động phát triển ngành chè tại tỉnh Thái Nguyên từ đầu năm đến nay ghi nhận những kết quả cụ thể trong việc mở rộng vùng nguyên liệu và nâng cao năng suất sản phẩm. Theo số liệu thống kê từ ngành nông nghiệp địa phương, tính đến thời điểm hiện tại, bà con nông dân trên toàn tỉnh đã trồng mới và cải tạo được 325 ha chè. So với kế hoạch trồng mới 395 ha đặt ra cho cả năm 2026, tiến độ thực hiện hiện đã đạt 82,3%. Để bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu đề ra, các cơ quan quản lý chuyên trách ở cơ sở đang tiếp tục phối hợp với các địa phương rà soát quỹ đất, hướng dẫn kỹ thuật làm đất và đôn đốc người dân xuống giống phần diện tích còn lại theo đúng khung thời vụ.
Việc duy trì nhịp độ trồng mới này đã củng cố quy mô tổng diện tích chè toàn tỉnh duy trì ở mức khoảng 24.000 ha, khẳng định vị thế là một trong những vùng chuyên canh chè chủ lực của cả nước. Về khía cạnh sản lượng, tổng khối lượng chè búp tươi thu hoạch được trong 5 tháng đầu năm 2026 ước tính đạt 99.300 tấn, bằng 35,8% kế hoạch năm. Việc sản lượng tập trung chủ yếu vào các tháng giữa năm là hiện tượng phù hợp với đặc tính sinh trưởng tự nhiên của cây chè sau giai đoạn mùa đông. Kết quả này cũng đòi hỏi các cơ sở chế biến và hệ thống phân phối trên địa bàn phải chủ động chuẩn bị các phương án vận hành, kho bãi để bảo đảm việc thu mua, tiêu thụ diễn ra ổn định, tránh tình trạng cục bộ trong những tháng thu hoạch rộ.
Triển khai cơ chế chính sách và giải pháp tháo gỡ khó khăn tại cơ sở
Để tạo cơ sở pháp lý và định hướng giải pháp một cách đồng bộ, ngành nông nghiệp địa phương đã bám sát các mục tiêu được phê duyệt tại Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 3/2/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển ngành chè tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2025 - 2030. Trên cơ sở đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch chi tiết, giao chỉ tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương, sở, ngành liên quan ngay từ đầu năm nhằm bảo đảm tính chủ động trong khâu thực hiện.
Bên cạnh khâu giao chỉ tiêu, ngành nông nghiệp tỉnh cũng đã tổ chức hội nghị làm việc trực tiếp với lãnh đạo của 37 xã, phường có diện tích chuyên canh chè lớn trên địa bàn. Việc đối thoại này tập trung vào việc nhìn nhận các khó khăn thực tế về hạ tầng sản xuất, đề xuất giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong việc tiếp cận chính sách hỗ trợ, đồng thời đề nghị các địa phương chú trọng bố trí nguồn kinh phí phù hợp để triển khai các nội dung của nghị quyết. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp quản lý từ tỉnh đến cơ sở là điều kiện cần thiết để các chính sách hỗ trợ về giá giống, chuyển giao kỹ thuật trồng chè cành chất lượng cao tiếp cận trực tiếp và hiệu quả đến các hộ sản xuất.
Mục tiêu phát triển tầm nhìn 2030 và định hướng chuẩn hóa vùng trồng
Kế hoạch phát triển đến năm 2030 của ngành chè Thái Nguyên đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn về mặt chất lượng và quản trị quy trình. Tỉnh phấn đấu ổn định diện tích chè ở mức khoảng 24.500 ha, đưa sản lượng chè búp tươi đạt 300.000 tấn. Điểm nhấn quan trọng trong hệ thống chỉ tiêu này là việc hướng tới mục tiêu có 70% diện tích chè được chứng nhận sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn như GAP hoặc hữu cơ, đồng thời 70% diện tích được cấp mã số vùng trồng chính thức. Bên cạnh đó, toàn bộ các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh chè trên địa bàn phải đáp ứng đầy đủ các quy định về an toàn thực phẩm.
Việc chú trọng nâng cao tỷ lệ diện tích đạt tiêu chuẩn GAP, hữu cơ và xây dựng mã số vùng trồng là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển của thị trường tiêu dùng hiện đại. Trà Thái Nguyên hiện có thị phần vững chắc tại thị trường nội địa, nhưng để nâng cao giá trị thặng dư và hướng tới các thị trường xuất khẩu có giá trị cao, yếu tố kiểm soát chất lượng an toàn sinh học cần được đặt lên hàng đầu. Việc số hóa quy trình quản lý vùng trồng sẽ giúp minh bạch hóa thông tin, giúp người tiêu dùng dễ dàng truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Khi vùng nguyên liệu được chuẩn hóa quy trình và kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn, thương hiệu trà địa phương sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Bảo An